|
Ai nghiên cứu/bàn về Hoàng Sa, Tây Sa nên ghi mấy dữ kiện sau đây. Những
dữ kiện này chứng minh hết sức rõ ràng rằng : về pháp lý, hành chánh, thực
sự, Hoàng Sa và Tây Sa thuộc về Việt Nam từ thế kỷ VXII, ngay từ thời các
Chúa Nguyễn.
Trong "Việt Sử, Xứ Đàng Trong, 1558-777 ", Quyển Hạ, (Nhà In Xuân Thu,
Houston,
Texas, 1976), Giáo Su Phan Khoang viết :
Ơ trang 499 :
''Ngoài hải phận phủ Quảng ngãi, thuôc huyện Bình nơn, xã An vinh, về phía
đông bắc, có hơn 130 bãi cát vàng cách nhau một ngày đương hoặc vài trống
canh, kéo dài không biết mấy nghỉn dâm, tục gọi là « Vạn lý trường sa ».
Trên bãi có giếng nước,ngọt, sản vật có hải sâm, đồi mồi, vích, ba-ba, ốc
xa cừ, ốc hoá, v.v...tàu thuyền ngoại quốc gặp bão thường đến đậu ở đó.
Các chua Nguyễn lấy dân ở xã An Vinh 70 người, đặt một đoàn gọi là đội
Hoàng sa, mỗi năm cứ tháng 3 thì đi thuyền ra đảo, 3 ngày 3 đêm thì đến,
lấy sản vật và hoá vật tàu thuyền bị đắm, tháng 8 đem về,vào cửa Eo, nạp ở
Phú xuân một phần, còn thì đem bán riêng. Lượm lấy được nhiều, ít, không
chừng, như năm nhâm ngọ [1642 ] lượm được 30 hốt bạc, năm nhâm [ ?] thân
[1644] được 5100 cân thiếc, năm ất dậu [1645] được 125 hốt bạc, cũng có
năm được bát sứ, súng, v.v...''
[Giáo sư Phan Khoan không ghi dữ kiện trên lấy ở tài liệu nào, nhưng có
thể đoán được là từ ''Đại Nam Thực Lục ''... , như sẽ thấy ở đoạn dưới]
Ở trang 547-48 :
''Đầu năm 1636 [thời Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan], đã có một thương-điếm
Hà-lan được thiết lập ở Qui-nam (tức Quảng-nam), chắc là ở Faifo, giao cho
Abraham Duijcker làm quản lý. Trước đó, hai chiếc tàu Hà-lan, chiếc
Warmont và chiếc Le Grol từ Nhật Bản đến Tourane, Duijcker được viên quan
ở Tourane, rồi quan trấn-thủ Quảng-nam tiếp đã tử tế, Duijcker cũng đến
Thuận-hoá yết kiến Chúa Thượng. Duijcker có việc kêu xin : chiếc tàu Hà
tên Grootenbrook bị đắm ở Paracels, đoàn thủy thủ được người Việt cứu
thoát, nhưng số tiền 25580 réaux thì bị lấy mất, vậy xin gao hoàn lại số
ấy. Chúa sai trả lời rằng việc ấy xảy ra thời trấn thủ trước [nghĩ là
trước 1636], đừng nhắc lại nữa....''
[Trích trong Dagh Register, 1637, của Công Ty Đông Ấn Hà-lan?]
"Đại Nam Thưc Lục", của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn soạn (10 tập, do Nguyễn
Ngọc Tỉnh phiên dịch, do Bộ Quốc Gia Giáo Dục Hà Nội tái xuất bản, năm
2006), có ghi như sau về Hoàng Sa và Trường Sa:
Ở Tập I, trang 126:
"Muà hạ, tháng tư [năm Tân mão, 1711, thời Chúa Minh Vương Nguyễn Phúc
Chu]
[Chúa] Sai đo bãi cát Trường Sa dài ngắn rộng hẹp bao nhiêu"
Cững ở Tập I, trang 164
"Giáp tuất, năm thứ 16 [1754, thòi Chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát]....Mùa
thu tháng 7, dân đội Hoàng Sa ở Quảng Ngãi đi thuyền ra đảo Hoàng Sa, gặp
gió dạt vào hải phận Quyènh Châu nuớc Thanh. [Trung Quốc] Tổng đốc Thanh
hậu cấp cho rồi cho đưa về. Chúa sai viết thơ cám ơn. (Ở ngoài biển, về xã
An Vĩnh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quang Ngãi, có hơn 130 bãi cát cách nhau
hoặc đi một ngày đường, hoặc vài trống canh, kéo dài không biết mấy nghìn
dặm, tục gọi là"Vạn lý trường sa". Trên bãi có giếng nước ngọt. Sản vật có
hải sâm, đồi mồi, ốc hoa, v1ch, ba ba v.v
Buổi quốc sơ đặt đội Hoàng Sa 70
người, lấy dân xã An Vĩnh sung vào, hang năm, đến tháng 3 đi thuyền ra, độ
ba đêm ngày thì đến bãi, tìm liệm hóa vật, đến tháng 8 thì về nộp
..")
Và ở trang 898:
[Năm 1815] "Gia Định gạo rẽ (một phương gạo giá 5 tiền). [Vua] Sai thành
thần đong chưa vào kho. Sai đội Hoàng Sa là bọn Phạm Quang Ánh ra đảo
Hoàng Sa thăm dò đường biển"
Ơ Tập IV, trang 673, ghi:
Năm 1835 (thời Vua Minh Mạng)
" Hoàng Sa ở Hải phận Quảng Ngãi, có một chỗ nỗi cồn cát trắng, cây cối
xanh um, giữa cồn cát có giếng, phía tây nam có miếu cổ, có tấm bài khắc
bốn chữ "Vạn lý ba bình" (muôn dặm song êm) (cồ Bạch Sa [cát trắng] chu vi
1070 trượng, tên cũ là núi Phật Tự, bờ đông, tây, nam đều đá san hô thoai
thoải uốn quanh mặt nước. Phiá bắc, giáp với một cồn toàn đá san hô, sừng
sững nổi lên, chu vi 330 trượng, cao 1 trưởng 3 thước, ngang với cồn cát,
gọi là Bàn Thanh thạch). Năm ngoái vua sai Cai Đội Thủy quân là Phạm Văn
Nguyên đem lính thợ Giám thành cùng phu thuyền tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định,
chuyên chở vật liệu đến dựng miếu (cách toà miếu cổ 7 trượng). Bên tả miếu
bia đá; phía trước miếu xây bình phong. Mười ngày làm xong, rồi về."
Cũng ở Tập IV, trang 867, ghi:
Năm 1836 (thời Vua Minh Mạng)
"Bộ Công tâu nói:"Cương giới mặt biển nước ta có xứ Hoàng Sa rất là hiểm
yếu. Trước kia, đã phái vẻ bản đồ mà hình thế nó xa rộng, mới chỉ được 1
nơi, cũng chưa rõ ràng. Hằng năm, nên phái người đi dò xét cho khắp để
thuộc đường biển. Xin từ năm nay rở về sau, mổi khi đến hạ tuần tháng
giêng, chọn phái biền binh đến Quảng Ngãi, bắt hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình
Định thuê 4 chiếc thuyền của dân, hướng dẫn ra đúng xứ Hoàng Sa. Không cứ
là đảo nào, hòn nào, bãi cát nào, khi thuyền đi đến cũng xét xem xứ ấy
chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng, chu vi v ànước biển bốn bề
xung quang nông hay sâu, có bãi ngầm, đá ngầm hay không, hình thế hiểm
trở, bình dị thế nào, phải tường tất đo đạt, vẽ thành bản đồ. Lại ,xét
ngày khởi hành, từ cửa biển nào ra khơi, nhằm phương hướng nào đi đến xứ
ấy, căn cứ vào thuyền đi, tính ước được bao nhiêu dặm. Lại từ xứ ấy trông
vào bờ bến, đối thẳng vào là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, đối chiênh
chếch là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, cách bờ biển chừng bao nhiêu
d8ạm. Nhất nhất nói rõ, đem về, dâng trình"
"Vua y lời tâu. Sai Suất đội Thủy Quân Phạm Hữu Nhật đem binh thuyền đi.
Chuẩn cho mang theo 10 cái bài gỗ, đến nơi đó dựng làm dâu ghi (mỗi bài gỗ
dài 5 thước, rộng năm tấc, mặt bài khắc những chữ « Minh Mệnh thứ 17, năm
Bính Thân, Thủy quân Chánh đội trưởng xuất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh đi
Hoàng Sa trông nom đo đạc đến đây lưu dấu để ghi nhớ ''
Cũng ở Tập IV, trang 1058 :
Năm 1836. ''Bính Thân, Minh Mệnh năm thứ 17, mùa đông, tháng 12. Thuyền
buôn Anh Cát Lợi đi qua Hoàng Sa, Mắc cạn, bị vỡ và đắm ; hon 90 người đi
thuyền sam bản đến bờ biển Bình Định.
Vua được tin, dụ tỉnh thần lựa chọn nới cho họ trú ngụ, hậu cấp cho iền và
gạo. Lại phái vệ thông ngôn đến dịch thăm hỏi, tuyên Chỉ ban cấp. Bọn họ
đều qùy dài, khấu đầu không thôi. Sự cảm kích biểu lộ ra lời nói và nét
mặt. Phái viên về tâu : ''H ọ, tính vốn kiệt hiệt, kiêu ngạo, nay được đội
ơn chẩn tuất, bỗng cảm hoá, đổi mục tục man di. Thật đáng khen. Sai thưởng
cho thuyền trưởng và đầu mục, mỗi người một áo đoạn vũ hàng màu, một quần
vãi tây và chăn vải ; các người tùy tùng mỗi người một bộ áo quần bằng vải
màu. Sắc phái viên sang Tây là Nguyễn Tri Phương và Vũ Văn Giai đưa họ
sang bến Hạ Châu, cho về nước ''
Những chi tiết ghi trên cho thấy rằng từ đầu thế kỷ XVII, năm 1636, thời
Chúa Thuợng Nguyễn Phúc Lan (1635-16480, qua thời các chúa và vua của
Triều Nguyển Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), Chúa Võ Nguyễn Phúc
Khoát (1739-1763), Hoàng Đế Gia Long (1802-1820) và Minh Mạng (1820-1840)
các quần đảo Hoàng Sa và Tây Sa hoàn toàn thuộc về Việt Nam, và chủ quyền
của Việt Nam hoàn toàn phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế: 1/ có dân ở và
chiếm đóng thực sự (effective occupation), có cơ cấu hành chánh thực sự
(effective administration), và chủ quyền được các quốc gia khác công nhận
và tôn trọng ( jurisdiction recognized internationally).
Trong khi đó Trung Quốc hoàn toàn vắng mặt trên những nới đó.
Sự Trung Quốc đưa quân chiếm đóng các đảo đó là một cuộc xâm lăng bằng võ
lự trắng trợn..
Do Tôn Thất Thiện sưu khảo.
|