|
PHỎNG VẤN VÊ LÃNH THỔ LÃNH HẢI
Văn Hóa phỏng vấn GS Nguyễn Văn Canh |
LKTBAI3.pdf
Quận Cam 26-10-208, Văn Hóa phỏng vấn GS Nguyễn Văn Canh
LTS: Giáo sư Nguyễn văn Canh đã hiệu đính phần trả lời bài phỏng vấn
này và cung cấp thêm chi tiết và hình ảnh.
* Phản hồi của Gs Nguyễn Văn Canh về lời phát biểu của Đại sứ Lê
Công Phụng
* Trách nhiệm người Việt tị nạn: Quốc gia Hưng vong, Thất phu Hưũ
trách
Lý Kiến Trúc: Kính chào Giáo sư, trước hết xin thay mặt cho đài
Truyền hình Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại Freevn.net và báo Văn Hóa,
chúng tôi hân hạnh đón tiếp Giáo sư và cám ơn Giáo sư đã nhận lời dự
cuộc phỏng vấn đặc biệt ngày hôm nay, và xin chúc Giáo sư lúc nào
cũng được mạnh khỏe để tiếp tục công việc cho các thế hệ mai sau.
GS Nguyễn Văn Canh: Chào nhà báo Lý Kiến Trúc và chào tất cả quý
thính giả, tôi rất lấy làm hân hạnh có mặt ngày hôm nay để trả lời
một số câu hỏi mà nhà báo Lý Kiến Trúc nêu ra liên quan tới Vịnh Bắc
Việt, Hoàng Sa và Trường Sa cũng như liên quan tới một điểm nào đó
trên vùng lãnh thổ của Việt Nam. Nhà báo hỏi câu gì tôi sẽ cố gắng
trả lời câu đó.
LKT: Vâng thưa Giáo sư, trước khi có cuộc phỏng vấn giữa chúng tôi
và Đại sứ của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Lê Công Phụng
tại Hoa Thịnh Đốn, thì chúng tôi đã liên lạc được với một vài giới
chức và biết rằng tập tài liệu Bạch Thư mà Giáo sư là tác giả đã gửi
đến các cơ cấu quan trọng của Hoa Kỳ ở hành pháp, lập pháp và tới
Tổng thư ký và 192 thành viên Liên hiệp quốc. Chính vì tác động của
cuốn Bạch Thư này,cho nên chúng tôi nghĩ rằng nó đã gây ra một cái
sự bối rối đối với chính quyền Hà Nội hiện nay, vì cuốn Bạch Thư đã
nói lên tất cả, có thể nói rằng đó là sự thật mà người Việt quốc gia
tại hải ngoại đã nắm được, liên quan đến vấn đề biên giới Việt
Trung, về vịnh Bắc việt, về Hoàng Sa và Trường Sa.
Cho nên vào ngày 23 tháng 9 vừa qua, Đại sứ Lê Công Phụng qua một số
trung gian đã tổ chức cho chúng tôi có một cuộc phỏng vấn, trong đó
ông Phụng có nói về quá trình đàm phán biên giới Việt Trung giữa
Việt Nam và Trung Quốc, thì theo Giáo sư trong cái quá trình đàm
phán này kể từ năm 1991 tức là năm Việt Nam bắt tay lại với Trung
Quốc, Giáo sư có theo dõi trong quá trình đàm phán giữa Việt Nam
Trung Quốc, Giáo sư có nhận thấy có gì khác lạ trong đó hay không.?
GS Canh: Quá trình đàm phán không phải từ 1991 đâu. Các đàm phán này
đã có từ trước 1979 tức là trước khi Trung Cộng đánh Việt cộng vào
năm đó. Hai bên cũng đã có những cái thương thảo. Việt cộng lúc đầu
thì vẫn cứ dựa vào cái hiệp ước Pháp - Thanh tức là hiệp ước Thiên
Tân 1885, với Công ước 1887 làm nền tảng thương thuyết, trong khi
Trung Cộng không nhìn nhận hiệp ước ấy. Cái khác lạ là cuối cùng
Trung cộng đòi cái gì, thì về sau này Việt cộng thỏa mãn những cái
đòi hỏi đó, nghĩa là đường ranh do công ước 1887 không còn được dùng
làm căn bản để thương thuyết nữa. Không giử được đường ranh giới ấy,
thì hậu quả là hợp thức hóa những lấn chiếm của Trung Cộng.
LKT: Thưa Giáo sư, trong cuộc phỏng vấn với ông Lê Công Phụng về quá
trình đàm phán thì ông Phụng có nói là dựa trên căn bản pháp lý của
hòa ước Thiên Tân năm 1985 và năm 1987, đồng thời dựa trên luật biển
của hiệp ước 1982, vậy thì thưa Giáo sư nếu mà họ nói là họ dựa trên
hai cái cơ sở pháp lý đó thì tại sao càng ngày càng lùi dần để cho
Trung cộng lấn áp như vậy?
GS Canh: Theo tôi nghĩ thì cái sự lùi dần và nhượng bộ Trung cộng đó
là do cái đám lãnh đạo của Cộng sản VN ngày nay trở thành tay sai
của Trung cộng mà trong các bài viết của tôi, tôi gọi họ là thừa
sai, và về sau vì cái mức độ thừa sai của họ, nên gọi họ là thái thú
người bản xứ để thực hiện cái mưu đồ bá quyền của Trung cộng tại
vùng Đông Nam.
Nhà báo có hỏi đến Hiệp Ước Thiên Tân ký năm 1885. Hiệp ước này đã
thi hành hơn 100 năm nay mà VC viện dẫn để điều đình với TC, thì tôi
chẳng thấy có gì làm căn bản cả. Như vậy khi thương lượng, VC đã
theo đòi hỏi của TC và mặc thị hủy bỏ hiệp ước ấy rồi để có ranh
giới mới. Đó là công tác bán đất bán biển. Ngoài ra, họ còn có hành
vi mặc thị giúp sát nhập một phần Việt Nam vào lãnh thổ Trung Hoa.
Cũng có thể thêm rằng các hành động của họ như là thực hiện đồng hóa
dân Việt Nam trở thành người Tàu, như là điều mà Trường Chinh đã
công bố năm 1951 với tư cách là Tổng thư ký đảng Lao Động .Và cái
ranh giới mới mà TC vẽ trên Biển Đông của Việt nam mà người ta gọi
là “ lưỡi rồng” trên bản đồ mới mà Trung cộng đã vẽ lại và phổ biến
lại vào tháng 6 năm 2006 vừa rồi là một thí dụ về việc Đảng Cộng sản
Việt nam thực hiện mục tiêu của bá quyền Trung cộng. Cho đến này,
Đảng CSVN không có một phản ứng tích cực nào, chống lại âm mưu này
của TC. Sinh viên trong nước biểu tình về vấn đề Hoàng Sa và Trường
Sa trong những tháng gấn đây bị đàn ap dã man là một thí dụ khác.
Những đường ranh mới của biển Đông mà Trung cộng nhận có chủ quyền
đi sát vào bờ biển Việt Nam và như thế chặn mất cái khu Không Gian
Sinh Tồn của dân Việt, và chút nữa đây tôi sẽ nói điều đó ở cái phần
sau:
Hình Bản Đồ 
LKT: Vâng thưa Giáo sư, trở lại những cuộc đàm phán trên bộ thì ông
Lê Công Phụng nói rằng người ta đổ tội cho ông là bán đất ở trên
vùng biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc. Tuy nhiên ông ta khẳng
định rằng là không có mất bao nhiêu cây số vuông nào cả và ải Nam
Quan vẫn còn nguyên cũng như thác Bản Giốc vẫn còn. Thưa Giáo sư,
Giáo sư có đồng ý với những lời mà ông Lê Công Phụng phát biểu vừa
qua trên đài Á Châu Tự Do hay không?
GS Canh: Sai, hoàn toàn sai, và tôi có thể nói rằng nói dối thì đúng
hơn. Nghe bài phỏng vấn ấy, tôi thấy ông ta có xác nhận rằng nhà cầm
quyền Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam dựa lên trên hiệp ước Pháp
- Thanh vào năm 1885 tức hiệp ước Thiên Tân ký giữa Patenôtre và Lý
Hồng Chương để làm căn bản. Nhưng thực tế thì không phải như vậy.
Nếu mà chúng ta tham chiếu vào những tài liệu chính của đảng Cộng
sản Việt Nam như tài liệu có nhan đề là “ VẤN ĐỀ BIÊN GIỚI GIỮA VIỆT
NAM VÀ TRUNG QUỐC” đưa ra thì những gì đã được trình bày là hoàn
toàn sai.
Tôi lấy thí dụ như là khu Trình Tường sát với lại Móng Cái. Cái khu
đó dài tới 6 cây số chiều ngang của biên giới và sâu một cây số rưỡi
ở trong đất Việt đã bị Trung cộng lấy tất cả phần đó và sát nhập vào
một cái gọi là công xã Đông Hưng. Như vậy bảo rằng không mất một cây
số nào có nghĩa là gì? Như thế và trong suốt cả dọc biên giới đó có
40 địa điểm như vậy, và rất nhiều điạ điểm ở nơi đó Trung cộng sang
đuổi người Việt đi chỗ khác và chiếm nhà đất, rồi đưa người Trung
cộng sang để lập nghiệp, rối hợp thức hóa. Có những nơi khác dài tới
9 cây số và sâu vào một cây số rưỡi, và như thế Lê Công Phụng nói
rằng “một cây số vuông sai lệch giữa hai bên “ như thế hoàn toàn
không đúng. Tôi có tài liệu mà chính Đảng Việt cộng đưa ra để tố cáo
Trung cộng liên quan tới vấn đề ấy. Vấn đề như vậy là vấn đề hơi dài
thành ra tôi không thể nói được ở đây.
Nay, tôi kèm theo một ít tóm lược để cho đầy đủ hơn.
Nhưng cái phần quan trọng bây giờ đó là vấn đề Trường sa, hậu quả
của những hành động của Hồ Chí Minh như thế nào để mà mất Hoàng Sa
và Trường Sa và là mối nguy hiểm quá lớn cho quyền lợi của toàn thể
dân tộc Việt, cũng như là nhà báo Lý Kiến Trúc có nói nó liên quan
tới hòa bình và ổn định trong vùng Đông Nam Á Châu. Thục sự thì nguy
cơ bất ổn có thể đi xa hơn nữa.
LKT: Thưa Giáo sư, xin phép Giáo sư được phép trở lại sự kiện Trường
Sa và Hoàng Sa. Tiếp tục câu chuyện hôm nay, thưa Giáo sư, có một
cái điểm này khá quan trọng mà ông Lê Công Phụng có vẻ rất như là ưu
tư và cũng bày tỏ cái sự bứt rứt cá nhân của ông ta về biên giới
Việt Trung, tức là, hiện nay thì ông Phụng thổ lộ ra là từ giờ cho
đến tháng 12 cuối năm nay sẽ phải dứt điểm cái cao điểm rất quan
trọng dọc theo biên giới Việt – Trung. Về các cao điểm đó, thưa Giáo
sư tôi có hỏi ông Phụng rằng có phải những cao điểm đó chính là
những con đường chiến lược mà từ ngàn năm nay quân Tàu đã từng dùng
nó để tiến quân xâm lăng Việt Nam hay không, thì ông trả lời là có
khả năng trong đó. Chẳng hạn như con đường chiến lược của Ải Nam
Quan, nó tựa như là một cái sạn lộ, cái độc đạo để tiến quân xuống
Việt Nam. Sáu cao điểm đó hiện nay còn đang trong sự tranh chấp giữa
Việt Nam và Trung Quốc. Vậy thì thưa Giáo sư, Giáo sư có nắm vững về
những cao điểm đó hay không và đối với Giáo sư những cao điểm đó nó
có vị trí quan trọng như thế nào trong cái bối cảnh hiện nay giữa
mối quan hệ Việt Nam và Trung Quốc?
GS Canh: Trước hết, Bắc Kinh từ nhiều năm nay áp lực với Việt cộng
là hoàn tất mau việc cắm mốc. Tại sao? Để “ cho sự việc đã rồi” và
như thế không thể đảo ngược được những gỉ mà VC đã cam kết qua hiệp
ước biên giới 1999. Và chúng đòi hỏi rằng hoàn tất công tác này
trong năm 2008. VC đang chạy theo thời điểm đó. Sau khi cắm mốc
xong, thì Bắc Kinh sẽ cho phổ biến bản đồ về đường ranh mới. Lúc đó
ta mới biết bao nhiêu và ở nơi nào. VC không dám phổ biến bản đồ
trước.
Kế đó, tôi có biết một phần nào chắc chắn liên quan đến các cao điểm
đó. Có hai con đường đáng kể mà quân Trung Hoa sử dụng để xâm lăng
Việt nam. Đó là cái phần Ải Nam Quan thuộc Lạng sơn và phần thứ hai
nữa là phần trên tỉnh Hà Giang.
Về phần Ải Nam Quan, thì nếu chúng ta nhìn về hướng Bắc, có hai cái
dãy núi ở xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định về phía tay trái. Hai cái
dãy núi đó nằm sát cửa Ải Nam Quan, là con đường tiến quân vào Việt
nam. Hai dãy núi đó tôi có đầy đủ tên hai dãy núi đó và bây giờ thì
Trung cộng chiếm hẳn. Chúng đã nằm ở trong lãnh thổ của Trung cộng
rồi. Mặt khác, về phía tay phải, có một cái khu gọi là khu Bình Độ
400 ( thuộc huyện Cao Lộc) mà vị trí của nó là ở sau cái cột mốc 26
(căn cứ theo hiệp ước Thiên Tân) cũng đã nằm ở trong lãnh thổ Trung
cộng. Vậy thì cả hai cao địa nằm ở hai bên ải Nam Quan đã giúp bảo
vệ lãnh thổ, nghĩa là kiểm soát đường tiến quân của Bắc phương để
bảo vệ Việt nam đã mất. Trung Hoa hồi xưa xâm lấn Việt Nam đi qua
ngả đó đều bị đánh bại và bị tiêu diệt ở nơi đó. Bây giờ thì vùng
đất hiểm trở vảo vệ đất tổ đã thuộc của Trung cộng. Đó là cái nơi mà
nhà báo Lý Kiến Trúc nêu ra là điểm chiến lược thì bây giờ đã nằm ở
trong tay của Trung cộng;
Điểm thứ hai là vị trí chiến lược khác là ở biên giới Hà Giang. Tại
Hà Giang vào thời gian chiến tranh 1979, thì Trung cộng đã đưa tới 3
quân đoàn, cộng với 2 sư đoàn độc lập từ Côn Minh ( tổng cộng là 14
sư đoàn) sang để đánh chiếm cái khu biên giới bắc Hà Giang . Con
đường tiến quân vào Việt nam tại khu vực này với núi non hiểm trở để
bảo vệ quê hương cũng không còn là đất của Việt nam nữa. Và tại nơi
này, trước kia ông cha của chúng ta cũng đã ngăn chặn quân Tàu xâm
lăng tiến qua ngả đó. Hiện bây giờ quân Tàu đã chiếm cứ, họ đã giữ
chặt cái khu vực đó và đã nằm ở trong lãnh thổ của Trung cộng rồi.
Hai trong 5 dãy núi đó Trung cộng đã đổi tên thành Lão Sơn và Giải
Âm Sơn ( xin xem phần tóm lược đính kèm).
Mai này, nếu Trung cộng sẽ còn mang quân sang chiếm thêm đất, và cả
2 khu vực Lạng Sơn và Hà Giang này không còn, thì quân nhà Hán sẽ
thong thả tiến sang.
LKT: Kính thưa quý vị khán thính giả, phần đầu tiên chúng tôi vừa
kết thúc với Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Văn Canh về biên giới và các
đường ranh giữa Trung Quốc và Việt Nam đã được Giáo sư tỏ bày rất là
rõ và đồng thời Giáo sư cũng phản hồi lại những lời nói của ông Lê
Công Phụng vừa qua. Chúng tôi nghĩ rằng là đây là những lời phản hồi
của một vị Giáo sư Tiến sĩ đã có rất nhiều công trình để nghiên cứu
những hồ sơ này.
Thưa Giáo sư, chúng ta vừa mới đề cập đến cái tình hình của Ải Nam
Quan đồng thời nói tới Ải Nam Quan thì người Việt Nam cũng không
quên được thác Bản Giốc. Đó là một thắng cảnh có thể nói là đẹp
tuyệt vời của đất nước Việt Nam chúng ta ở miền Bắc, và bây giờ theo
như mọi người hiểu thì thác Bản Giốc và cũng theo như lời ông Lê
Công Phụng thì thác Bản Giốc nay một nửa về phía bên Trung quốc,
điều đó có đúng không thưa Giáo sư?
GS Canh: Vấn đề kiểm chứng để xác nhận thì tôi không có chắc cho lắm
vì Đảng CSVN dấu nhẹm mọi việc. Nhưng mà tôi nghĩ rằng chuyện mất
thác Bản Giốc là đúng. Thác Bản Giốc trước kia ở sâu trong nội địa
của Việt Nam và ngày nay đã nằm một nửa ở bên Trung Cộng và nhất là
Trung Cộng họ đã xây một cái đập bằng xi măng cốt sắt ở cái khúc
sông Qui Thuận để chặn lại và từ đó thác Bản Giốc một nửa thuộc về
Trung Hoa đúng như là Lê Công Phụng nói. Vậy thì nếu có cắm mốc thì
chắc chắn phải cắm mốc mới và họ dự trù là ở trên giữa thác Bản
Giốc, thay vì hồi xưa theo biên giới hồi Pháp Thanh thì biên giới ấy
nằm ở mãi phía bắc, chứ không phải là giữa thác Bản Giốc như ngày
nay. Hình trong tài liệu đính kèm có thể nói rõ hơn về tính trạng
của thác ấy..
LKT: Nhưng mà thưa Giáo sư ông Lê Công Phụng nói là dựa trên hai bản
đồ mà Việt Nam đưa ra và Trung Quốc đưa ra, cái bản đồ Pháp Thanh đó
thì cái mốc của thác Bản Giốc đó nằm giữa dòng sông vào thời đó, thì
cái điều đó có đúng không?
GS Canh: Tôi không nghĩ như vậy. Tôi biết chắc rằng riêng cái phần
thác Bản Giốc đó nằm sâu trong nội địa của chúng ta và chiếu theo
tài liệu của VC, thì trước đây TC mang 2000 người lính đi qua biên
giới để đổ bê-tông cốt sắt kè một cái nhánh sông dọc theo Việt Nam
để họ làm thay đổi cái dòng sông đó và cái thác Bản Giốc đó trước
kia nằm ở trong lãnh thổ của chúng ta, bây giờ vào sát một nửa thì
như vậy chúng ta cũng đã mất phân nửa thác Bản Giốc.
Cách đây mới mấy ngày, tòa Đại sử TC tại Hà nội tổ chức một cuộc du
ngoạn từ Việt nam đến thăm thác Bản Giốc. Trong nhóm du khách được
mời có cả viên chức đảng CSVN, có cả thông tấn xã v.v..Để làm gì? Để
chứng tỏ thác này nay là của TC: Một nơi thắng cảnh nổi tiếng được
đặt tên là Đức Tiên ,Đệ Nhất Hùng Quan (dĩ nhiên của Trung Hoa). Nó
cũng là một tín hiệu bảo cho ĐCSVN, cho dân chúng VN, cho thế giới
biết rằng không có thể đảo ngược được tình thê. Chắc chắn, ĐCSVN lại
ngậm miệng như từ trước đến nay. Xin xem hình ở phần đính kèm.
LKT: Còn về Vịnh Bắc Bộ và huyện Tam Sa cũng như Nghị định thư về
viêc đánh cá giữa Việt Nam và Trung Quốc hiện nay, theo sự trình bày
của Giáo sư trong một số ngày gần đây và trong các cuộc hội thảo của
GS thì Vịnh Bắc Việt hiện nay đã được coi gần như là sự toa rập của
Việt Nam đối với Trung Quốc để Trung quốc khống chế cái Vịnh Bắc
Việt đó, xin Giáo sư có thể mô tả sự khống chế Vịnh Bắc Việt đó như
thế nào và sự phân chia Vịnh Bắc Việt đó giữa những vùng đánh cá đó
ra sao, quyền lợi kinh tế hai bên như thế nào và quyền lợi hải sản,
khoáng sản..., lợi và hại như thế nào đối với Việt Nam và Trung
Quốc?
GS Canh: Quý vị thính giả và khán giả đã biết được rằng vào năm 2000
tháng 12, Việt cộng và Trung cộng đã ký cái hiệp định liên quan tới
việc phân định vùng Vịnh Bắc Việt. Ngoài ra họ kèm theo một cái hiệp
định khác nữa là hiệp định về nghề cá trong vùng Vịnh. Lê Công Phụng
có nói rằng dựa theo Công ước 1887 để hai bên phân định lại Vịnh Bắc
Việt và không mất bao nhiêu hay chẳng mất tí gì cả, và còn được lợi
nhiều ngàn cây số vuông đựa theo luật biển (1982) mà Phụng đã từ
chối..
Vậy thì bây giờ tôi chứng minh xem là mất bao nhiêu và tình trạng
của Vịnh Bắc Việt hiện nay ra làm sao.
Cái bản đồ của chúng ta ở đây là cái bản đồ của Vịnh Bắc Việt do
công ước 1887 qui định và họ vẽ theo sự thỏa thuận của hai bên. (
xem bản đồ trong bài đính kèm). Bắt đầu từ ở đây là Móng Cái và
chúng ta có thấy một cái đường Màu Đỏ, Bắc Nam, kéo từ ở Móng Cái đi
xuống cửa vịnh, và một bên là Hoàng Linh (?) của Hải Nam, và một bên
là Cồn Cỏ của Bắc Việt của chúng ta. Đó là cửa vịnh và chiều ngang
vào khoảng 130 hải lý gì đó. Tôi nhấn mạnh lại rằng cái đường Màu Đỏ
này là đường trong bản đồ của Công Ước 1887 ký giữa nhà Thanh với
người Pháp. Đường màu đỏ này nằm ở phía đông của đảo Trà Cổ chạy
xuống dưới phía dưới, đến cửa Vịnh. Phần ở phía Tây của đường màu đỏ
này thuộc Việt Nam và phía Đông là của Trung Hoa. Trước khi thỏa
thuận với nhau, Lý Hồng Chương của nhà Thanh lại phàn nàn rất nhiều
là Trung Hoa bị mất nhiều, nhượng lãnh thổ cho Pháp quá nhiều và cứ
đòi đi đòi lại, kêu nài để “xin thêm chút đỉnh”, thì lúc đó cái anh
Constan là đại diện chính phủ Pháp (để sang ký Công Ước để chia vùng
vịnh này) muốn về Pháp mau, cho xong việc. bèn nhượng cho một cái
mũi gọi là mũi Bắc Luân, cách Móng Cái độ khoảng độ 20 hay 30 cây số
hay gì đó về phía Đông, và ngoài ra còn có một cái làng ở phía bên
kia biên giới gọi là làng Sóc Sơn ( của Việt nam do cha Piêrre cai
quản) cũng cho Trung Hoa luôn. Thành ra mình chỉ còn lại từ ở Móng
cái đi xuống. Nêu không thì, phải vẽ đường Màu Đỏ từ Mũi Bắc Luân,
không phải từ Móng Cái.
Và họ vẽ một đường Màu Đỏ như thế này để phân chia. Theo công ước
ấy, thì đó là đường ranh giới phân chia Vịnh.
Vùng vịnh có diện tích là bao nhiêu? Diện tích Vịnh có khoảng độ
123,700 cây số vuông. Căn cứ vào đường ranh giới Màu Đỏ này, thì
Việt Nam có khoảng 77 ngàn cây số vuông và Trung Hoa có số còn lại,
vì theo thỏa ước Pháp Thanh là 64% cho Việt nam và Trung Hoa còn có
36% mà thôi. Bây giờ khi mà ký cái hiệp ước năm 2000 chia đôi như
vậy thì họ dựa vào đâu? Việt Nam đòi rằng vẫn dùng hiệp ước Pháp
Thanh là căn bản, nhưng Trung cộng bảo không, vì cái hiệp ước đó là
do đế quốc Pháp nó ăn gian, nó áp bức Trung quốc và Trung quốc lúc
đó phải nhượng bộ và đó là một hiệp ước bất bình đẳng, cho nên bây
giờ Trung cộng muốn công bằng hơn. Từ thập niên 1970 TC đã đòi như
thế, bên Việt cộng cũng không chịu chia lại. Trung cộng việc cớ rằng
cái đường Màu Đỏ là đường quản lý hành chánh các đảo mà thôi, không
là đường phân chia biên giới. Vậy, phải xóa bài làm lại biên giới.
Nếu mà nhìn vào cái hiệp ước Pháp Thanh để mà biết rõ cái đường đó
là đường quản lý hành chánh hay là đường ranh giới, thì rõ ràng
trong Công Ước đó nó nói rõ rằng đây là cái đường ranh giới giữa hai
bên. Nhưng mà Trung cộng sử dụng sức mạnh của mình, sử dụng áp lực
với Việt cộng, cứ nhất quyết bảo rằng đây là đường hành chánh chứ
không phải đường ranh giới. Ngày nay thì đúng là những cái điều gì
mà Trung cộng nó đòi hỏi thì Việt cộng đã thỏa mãn hết.
Ngày nay cái hiệp ước Vịnh Bắc Việt như thế nào? TC đòi rằng bắt đầu
từ ở Móng Cáy chạy ra giữa Vịnh, rồi đi xuống, cắt đôi vịnh. Để được
như thế, thì đường phân định ranh giói bắt đầu từ Móng Cáí chạy
xuống đến cửa vịnh. Từ đây, họ chia ra đôi. Cả thảy có 21 điểm
chuẩn, bắt đầu từ điểm 1, ở Móng Cái, như trên bản đồ đính kèm,
dường ấy chạy vòng ra giữa Vịnh cho tới điểm 21. Tất cả cái phần
phía Đông là của Trung cộng, còn phần phía tây là của Việt Nam. Kết
quả Việt nam chỉ còn có 54%, Trung quốc còn lại 46% gì đó. Khi mà
xác định lại cái ranh giới như thế thì Việt nam mất hơn 11.000 cây
số vuông.
Khi mà cái hiệp ước phân chia Vịnh này đã được chấp thuận như vậy,
Trung cộng nó còn tham lam. Chúng bảo rằng bây giờ chúng muốn có một
cái hiệp ước đánh cá chung. Như vậy, thực tế nó là hai cái hiệp ước,
một cái hiệp ước phân định về lãnh thổ và một cái hiệp ước nữa là
hiệp ước về đánh cá chung. Vậy, cái hiệp ước đánh cá nó như thế nào?
Hiệp ước ấy ấn định rằng từ đường phân ranh giữa hai bên như vậy,
mỗi bên phải góp vào 30.5 hải lý để có vùng đánh cá chung. Nghĩa là
cùng nhau đánh cá. Đây là vùng lớn, nằm ở phía Nam vĩ tuyến 20 và
diện tích là 35 ngàn cây số vuông . Hiệp ước kéo dài 12 năm và có
thể gia hạn thêm 3 năm nữa là 15 năm. Chưa hết, ngoài ra còn có một
vùng nữa là trên phía bắc đảo Long Vĩ. Đó là một cái vùng gọi là
vùng quá độ nhỏ hơn và vùng quá độ chỉ có giới hạn là 4 năm mà thôi.
Câu hỏi là tại làm sao mà sau khi chia Vịnh rồi, lại còn có đánh cá
chung?
Tại sao Việt cộng lại chấp nhận cái phần đánh cá chung đó? Việt cộng
không đủ khả năng đánh cá hay sao mà lại hợp tác với Trung cộng để
đánh cá? Đây là một cái nhượng bộ mà người ta không thể tưởng tượng
được đối với Trung cộng.
Ngư dân Việt chỉ dùng dụng cụ thô sơ, thuyền gỗ, ít mã lực, như vậy
thì đánh cá chung như thế nào khi mà tàu đánh cá của Trung cộng có
những đoàn tàu to lớn, tàu đánh cá lớn với 200 mã lực, đánh cá rất
sâu và hai tàu hai bên kéo lưới dài tới 60 hải lý, tức là hơn 100
cây số. Như vậy hợp tác như thế nào và chia cá ra làm sao?
Ngoài ra, hạm đội đánh cá này sẽ kéo đi kéo lại nó vét cá trong vùng
vịnh và vào sát bờ vịnh như thế trong 15 năm, thì không còn cá cho
người Việt của mình. Ngư dân tỉnh Thái Bình, ngư dân tỉnhsống suốt
dọc cái mà Trần đứa Lương thỏa hiệp với Trung cộng để thiết lập
“vành đai kinh tế” vào năm 2005, thì còn gì để mà sinh sống. Hiện
nay, có ngư dân đã phải đi xa xuống phía Nam bằng thuyền gỗ để hành
nghề sinh sống. Hồi tháng 7 năm 2007, một số ngư dân đã bị hải quân
Nam Dương bắn chết vì hành nghề trong vùng biển của họ.
Về thực tế, tình trạng thi hành việc đánh cá chung có một cái phần
mà rất là bất lợi cho ngư phủ người Việt. Muốn hành nghề ở trong khu
đánh cá chung này thì phải có giấy phép. Ai là người cấp giấy phép?
Đối với phía Việt cộng, thì cái đảng bộ CS cũng như là hành chánh ở
địa phương cấp giấy phép. Có nhiều ngư phủ xin giấy phép phải đóng
tiền. Tiền này quá cao. Có ngưới không có tiền đóng để lấy cái giấy
phép hành nghề. Khi họ đánh cá, ngay cả ở trong vùng vịnh của mình
theo hiệp định mới và khu này lại nằm ở trong vùng đánh cá chung,
thì ngư phủ Trung cộng ( không nhất thiết là hải quân TC, hay tuần
cảnh TC v.v.) có quyền hỏi là giấy phép. Không xuất trình được giấy
phép thì ngư phủ TC “trấn lột” hết cá, tức là nó cướp hết cá, rồi
chuyển sang thuyền của chúng, trước khi đuổi ngư phủ Việt về.
Theo hiểu biết của tôi, thì trong vùng đánh cá chung có một khu vực
ở giữa vịnh, là vùng nước sâu , có loại cá là cá “đáy”. Cá ấy sống ở
sâu dưới nước. Cá này rất đắt giá. Ngư dân Việt không có tàu lớn,
không có ngư cụ tối tân để đánh loại cá này. TC có phương tiện đánh
bắt loại cá này.
Và một điểm khác nữa là chúng ta đã thấy có một sự kiện là mồng 8
tháng 1 năm 2005 một số thuyền đánh cá của ngư phủ Thanh Hóa ở vị
trí màu đỏ mà tôi đánh dấu trên bản đồ trong bài đính kèm hành nghề
trong phạm vi lãnh hải mới, cách cái đường ranh mới chỗ phân chia
vùng vịnh này là vào khoảng độ 12 cây số về phía Tây, ở cái điểm
chuẩn số 14 của đường phân chia vịnh này, khi đang đánh cá ở đấy thì
bất thình lình tàu hải quân Trung cộng loại tàu sắt của hải quân
Trung cộng tới gần, hạ cờ Trung cộng xuống, bắn một loạt. Một số ngư
thuyền bị chìm. Ít nhất là 9 ngư phủ Việt Nam chết ngay tại chỗ. Một
ngư dân đánh cá ở gần đó, thấy súng nổ và nhìn thấy có chuyện xảy
ra, chạy trốn về Thanh Hóa. Một tàu của hải quân Trung cộng đuổi ,
bắt nhiều phát đạn vào thuyền của nạn nhân, đến tận bờ biển Việt
Nam, rối mới bỏ đi
.
Đấy tình trạng phân chia vùng vịnh cũng như là vùng đánh cá chung
như vậy. Người ta có thấy một điều như thế này: Hai hiệp ước đó ký
vào tháng 12 năm 2000 nhưng mà tại làm sao đến tận 2004 quốc hội VC
mới phê chuẩn, trong khi đó hiệp ước trên đất liền chỉ có 6 tháng
sau là phê chuẩn (tháng 6 năm 2000). Thế tại sao như vậy? Báo chí
quốc tế họ cũng đi tìm hiểu, họ trả lời rằng sở dĩ mà Việt cộng
không dám phê chuẩn ngay là vì sợ rằng những cái tàu đánh cá của
Trung cộng là những tàu rất lớn, và cả một hạm đội hành nghề thành
từng đoàn như vậy và không thể qua mặt quốc tế được. Quốc tế đã nhìn
thấy, thì biết được rằng Việt cộng là cái anh đã nhượng bộ quá nhiều
những quyền lợi của dân tộc của mình và sợ rằng ở trong nước dân
chúng phản ứng cho nên họ kéo dài. Do đó Giang Trạch Dân năm 2002
sang tận nơi đòi là phải phê chuẩn sớm. Việt cộng lúc đó mới rục
rịch, mới chuyển động và đến năm 2004 thì quốc hội Việt Nam mới phê
chuẩn!!!
LKT: Thưa Giáo sư, Giáo sư mới trình bày sự thiệt hại vô cùng to lớn
của Việt Nam ở trong vùng Vịnh Bắc Việt và đồng thời cái hiệp ước
thứ hai là hiệp ước mà họ gọi là Nghị Định Thư về đánh cá chung; vậy
thì rõ ràng bây giờ cái vùng đánh cá chung này vừa mang lại lợi
nhuận kinh tế cho Trung quốc mà vừa mang đến cái ảnh hưởng của các
tàu sắt, tàu lớn của Trung quốc đi qua đi lại sát cạnh bờ biển Việt
Nam. Đối với Giáo sư, thì về an ninh quốc phòng của Vịnh Bắc Việt
này bây giờ hiện trạng nó như thế nào?
GS Canh: Ồ! cái này là một cái nguy hiểm nữa, là vì đã nhượng bộ một
nửa cái vịnh rồi, thế thì hải quân TC có thể tiến sát bờ biển VN
hơn. Rồi lại nhượng quyền cho TC cái quyền cùng kiểm soát sát đến
tận bờ biển nữa. Trung cộng đòi Việt cộng là bây giờ “tôi với anh
phải tuần tra chung”. Việt cộng với Trung cộng là đồng ý với nhau là
lập các toán hải quân để tuần tra trong vùng Vịnh. Tuần tra chung
cái gì? Để kiểm soát VC mà thôi. Trung cộng ảnh lớn quá có sực mạnh
hải quân nhiều hơn. Chúng ăn hiếp VC chứ còn VC làm sao ăn hiếp được
TC. Tuần tra chung có nghĩa là cái tàu hải quân của Trung cộng đi
sát vào bờ biển mình để kiểm soát Việt nam. Chứ thực sự thì trong
vùng Vịnh chỉ có Việt cộng và Trung cộng. Không có quốc gia đệ tam
nào, hay nhóm ăn cướp nào dám vào đó để gây bất ổn cho Trung Cộng.
Dĩ nhiên về phương diên an ninh, VC lại càng không dám làm gì đối
với Trung Cộng . Đó là chưa kể đế kiểm soát những tài nguyên nằm ở
dưới biển, bảo vệ tàu khoa học của Trung cộng thỉnh thoảng đi vào
sâu trong lãnh hải của vịnh, trong phạm vi phần biên giới mới để mà
tìm tòi dầu hỏa.
LKT: Vậy thì theo như cái bản đồ này thì thưa Giáo sư, Bắc việt gần
ngay khu vực sát đảo Hải Nam mà bây giờ Trung Cộng đang xây căn cứ
tàu ngầm nguyên tử. Từ cái ranh giới này của vịnh có xa bao nhiêu
đâu, tại sao bây giờ lại có chuyện lập cái căn cứ tàu ngầm ở đảo Hải
Nam sau cái hiệp định này?
GS Canh: Đây là phần khác. Về phần này Trung cộng coi như nó chiếm
vùng vịnh rồi đó. Thế nhưng liên hệ đến căn cứ Tam Á, cái căn cứ tàu
ngầm nguyên tử Tam Á, thì Trung cộng muốn chiếm tới toàn bộ Hoàng Sa
và Trường Sa ở phía nam và hết cả biển đông để tiến tới Đông Nam Á.
LKT: Như vậy là những hiệp ước về vùng đánh cá chung ở Vịnh Bắc Việt
là những điểm đầu tiên để tiến gần về phương Nam phải không?
GS Canh: Đúng. Đã có tin Bộ tư lệnh hải quân TC đã dọn về đây.
LKT: Thưa Giáo sư, tiến gần về phương nam, thì phương nam gần nhất
là quần đảo Hoàng Sa, theo cái nhìn của Giáo sư, quần đảo Hoàng Sa
nó đang nằm trong tình trạng như thế nào?
GS Canh: Về quần đảo Hoàng Sa thì chúng ta biết được rằng đến năm
1974 Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa đã chiến đấu để bảo về cái phần đất
còn lại là khu Nguyệt Thiềm của quần đảo này. Về Hoàng Sa, và tôi
cũng nhân dịp này ca ngợi sự hy sinh của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa
đã anh dũng bảo vệ đất tổ. Những tin tức lúc trước mình không biết,
nhưng về sau này theo tài liệu của TC, thì biết được rằng viên đô
đốc, tên là Phương Quang Kinh, Tư-lệnh phó Hạm đội Nam-hải, lúc đó
là Tư lệnh mặt trận cùng với bộ Tham mưu Hành-quân đã bỏ mình tại
Hoàng Sa. Ngoài ra, 4 đại-tá, 1 trung ta, đều là hạm trưởng các
chiến hạm đều chung số phận.
Hải quân VNCH chỉ có 4 chiến hạm, không được trang bị bằng hỏa tiễn
như của TC, và đối đấu với một lực lượng hung hậu gồm 11 chiến hạm.
Về phía Hải quân VNCH, sĩ quan cao cấp nhất là hải quân Thiếu tá
Ngụy văn Thà cùng với 58 chiến sĩ đã anh dũng hi sinh bảo vệ hải đảo
của tổ tiên để lại.
Từ đó, Hòang sa đã nằm trong tay Trung Cộng. Và cho đến nay, Lê công
Phụng mới thú nhận sự thật này. Tại đây, Trung cộng đã xây rất nhiều
căn cứ quân sự. Căn cứ quân sự đầu tiên mà người ta thường hay nhắc
đến đó là căn cứ Phú Lâm hay tên quốc tế gọi là Woody. Trên căn cứ
này ngay từ thập niên 1980 TC đã xây rất nhiều những cơ sở cho quân
sự và có thể chứa được cả ngàn lính ở đó, xây hồ nước ngọt, xây các
bãi trực thăng và cả phi đạo. Phi đạo này bây giờ được nới rộng ra
và dài tới 2,600 m để cho phi cơ phóng pháo lên xuống. Có kho xăng
dầu nằm ở đây. Lúc đầu nó là một căn cứ tiền phương để tiến tới
phương nam, nối liền với lại Trường Sa và xa hơn nữa. Ngoài ra, có
đảo thứ hai là đảo Hoàng Sa mà người ta gọi là Pattle. Đảo Hoàng Sa
này đến năm 1974 còn thuộc về Việt Nam Cộng Hòa. Có rất nhiều cơ sở
quân sự nằm ở trên đảo này. Chúng ta thấy được một vài cái hình ảnh
khác nữa. Đây là một cái hình ảnh đảo Tri Tôn và đảo này sát gần với
Đà Nẵng của chúng ta nhất. Đây là bộ chỉ huy quân sự của quân đội TC
ở đảo Tri Tôn. Đây là hình một cái căn cứ quân sự khác. Đây cái mốc
chủ quyền trên đảo Tri Tôn. Đây là một đảo gọi là đảo Cây hoặc là Cù
Mộc. Đây là một cái bộ chỉ huy quân đội Trung cộng xây trên đảo
Quang Hoà thuộc Hoàng Sa. Đảo này thuộc nhóm Tuyên Đức….
LKT: Như vậy thì tất cả đảo Hoàng Sa đã được khống chế bởi các bộ tư
lệnh quân đội của Trung Quốc. Vậy thì ngoài ra đã vừa mất về đảo,
vừa mất về an ninh quốc phòng mà còn mất về kinh tế, thì thưa Giáo
sư nghĩ như thế nào?
GS Canh: Bây giờ toàn bộ quần đảo này nó nắm hết tất cả rồi. Tháng 6
năm 1992, chúng đã ký khế ước với công ty Crestone của Mỹ để tìm dò
dầu hòa ở một khu vực 25,000 cây số vuông ơ phía nam quần Đảo Hoàng
Sa. Thompson, chủ tịch của Crestone còn tuyên bố rằng TC hứa sẽ sử
dụng quân đội để bảo vệ công tác tìm và khai thác dầu. Những phân
chim hồi xưa Việt Nam Cộng Hòa của mình khai thác và đến việc đánh
cá chăng nữa nó cũng kiểm soát. Nó cấm ngư phủ mình đến và có nhiều
khi ngư phủ của mình lạc đến, nó bắn chết, hay ít nhất là bi bắt cầm
tù và nộp tiền phạt vì xâm phạm lãnh hải Trung Hoa. Dĩ nhiên, các
căn cứ quân sự ở đó là chỉ dấu cho thấy chúng luôn đe doa Việt nam.
LKT: Thưa Giáo sư nói đến đảo Hoàng sa thì nhân đây chúng tôi cũng
nhận được một vài sự kiện có tính chất thời sự hiện nay. Đó là vừa
mới rồi chúng tôi có đọc những bản tin thông báo là Trung cộng họ
sẵn sàng mời Việt Nam tham gia chung, để khai thác những tài nguyên
ở quần đảo Hoàng Sa, thì điều đó theo Giáo sư có nhận thấy ý kiến đó
nếu mà có thật của phía bên Trung quốc thì theo ý kiến của Giáo sư
như thế nào?
GS Canh: Nếu mà cái đó có thật thì đó chỉ là một cái lời nói như thế
để cho vui mà thôi, chứ hiện nay nó đã hoàn toàn kiểm soát cả quần
đảo Hoàng Sa, như Lê Công Phụng ngày nay mới dám xác nhận, khi nói
rằng “Hoàng Sa đã hoàn tàon thuộc của Trung quốc và Hoàng Sa về
phương diện lịch sử và pháp lý là luôn luôn mãi mãi là của Việt
Nam”. Quần đảo này hoàn toàn ở trong tay Trung cộng rồi thì không
bao giờ chúng muốn nhượng một cái quyền lợi cho ai khác. Tôi không
tin là cái chuyện đó là chuyện thật.
LKT: Vâng, thưa Giáo sư có nghĩ rằng có cái khía cạnh khác khi mà
Trung quốc tự nhiên lại mời Việt Nam tham dự khai thác chung những
nguồn lợi trên Hoàng Sa không?
GS Canh: Không, tôi không nghĩ thế. Nếu có, thì đó chỉ là một cái
chiến thuật tuyên truyền mà thôi. Ngay trên vùng biên giới, chúng
cho quân đội đến đuổi dân Việt ra khỏi nhà để cho dân TC sang chiếm
. Có khi còn đốt nhà, nếu người Việt chống đối. Đốt nhà rồi, cho dân
TC sang làm nhà lại và cư trú ngay khoảng đất đó. Với tinh thần đó,
thì làm sao có việc mời VC vào khai thác chung tài nguyên. Ngược lại
vào tháng 12 năm 2005, VC họp với TC tại Bắc Kinh rồi phổ biến tin
tức về hợp tác tìm dò dầu hỏa chung ở vùng quân đảo Trường Sa. Có
việc đó. Nghĩa là VC mời TC vào hợp tác với ý định chia lời thì có.
Nhưng ngược lại TC cho VC hợp tác làm ăn để chia lời thì không có
đâu. Hợp tác đánh cá chung trong vùng Vịnh Bắc Việt là thí dụ khác.
LKT: Dạ vâng, để trở lại cái sự bành trướng của Trung quốc về phương
nam, thì chúng đã tiến gần đến quần đảo Trường Sa và thật ra cái
quần đảo Trường Sa khu vực biển này nó rộng lớn hơn gấp nhiều lần so
với Vịnh Bắc Bộ và cái nguồn tài nguyên có thể nói rằng vô tận đối
với Việt Nam. Đồng thời nó cũng là vùng tranh chấp giữa 6 nước châu
Á. Vậy thì thưa Giáo sư, Giáo sư nghĩ thế nào về quần đảo Trường Sa
hiện nay nó đang nổi cộm lên những vấn đề, chẳng hạn như là hãng dầu
ExxonMobil đã bị Trung quốc đuổi đi và đồng thời Trường Sa hiện nay
đã có sự tiến dần đến của hải quân Hoa Kỳ tại Trường Sa?
GS Canh: À, chúng ta biết được rằng khi Nguyễn Tấn Dũng sang gặp ông
Bush thì có ý mời cho Mỹ quốc vào Việt Nam và người ta hiểu rằng nếu
mà Mỹ quốc vào Việt Nam như thế thì mang cái mồi quyền lợi kinh tế,
để rồi Mỹ sẽ bảo vệ quyền lợi kinh tế và bảo vệ Việt cộng. Họ đã
tính toán như vậy. Việc tính toán đó thực hiện được hay không, chắc
là nó cũng không có giản dị như là họ nghĩ đâu. Chúng ta nhìn vào
cái ranh giới mới của Trung cộng vẽ đường màu đỏ Trung cộng vẽ ra
trên bản đồ đây; có người gọi là bản đồ ‘lưỡi rồng’. Lãnh hải của
Trung cộng như vậy bao gồm toàn vùng Biển Đông. Liệu Mỹ có mang quân
đến đánh đuổi TC ra khỏi Hoàng Sa và một số đảo ở Trường Sa mà chúng
đã chiếm, để giúp VN bảo toàn lãnh thổ không? Còn nói rằng, “đã có
sự tiến dần đến của hải quân Hoa Kỳ tại Trường Sa”, thì không hẳn là
đúng. Hạm đội Mỹ vẫn hiện diện tại vùng biển này. Mỹ tuyên bố rằng
không từ bỏ sự hiện diện của Mỹ ở nơi đây Chắc chắn là vì quyền lợi
cũa Mỹ, Mỹ sẽ không bỏ biển Đông, nhất là lưu thông hàng hóa và buôn
bán hai chiều mỗi năm lên tới ngàn tỉ Mỹ Kim. Dĩ nhiên, TC có thực
sự đe dọa quyền lợi của Mỹ chưa hay đe dọa tới giới hạn nào? Đó là
vấn đề để Mỹ bảo vệ quyền lợi của họ. Còn về công ty ExxonMobil thì
Bộ ngoại giao Mỹ tuyên bố bảo vệ ExxonMobil. Công ti này cho biết họ
sẽ tiếp tục tìm dò và khai thác dầu. BP thấy thế đã tuyên bố quay
trở lại.
LKT: Tức là bản đồ ‘lưỡi rồng’ bao hết cả khu vực biển Nam Hải với
lại Trường Sa.
GS Canh: Bao hết tất cả cái khu vực này là 3 triệu rưỡi cây số vuông
mà Lê Minh Nghĩa là chủ tịch Ủy Ban Thềm Lục Địa của phủ thủ tướng
của Việt cộng vào đầu thập niên 1980 tuyên bố rằng cả Biển Đông có
ba triệu rưỡi cây số vuông thì nó chiếm ba triệu. Nếu nhìn vào cái
bản đồ mới này thì diện tích mà Trung cộng muốn chiếm lớn hơn là 3
triệu, vì nay nó sát với bờ của đường ranh bản đồ biển Việt Nam hơn.
Vậy thì bây giờ câu hỏi khoảng cách giữa cái đường ranh mới với lại
bờ biển của Việt nam dài bao xa? Tôi không có tọa độ để biết nó nằm
sát với bờ biển Việt nam như thế nào? Nhưng so sánh khoảng cách cửa
Vịnh là khoảng dưới 130 hải lý hay gì đó. Đường này được chia 2.Mỗi
bên một nửa là khoảng hơn 60 hải lý. Nếu nhìn khoảng cách từ Cam
Ranh ra tới ranh giới mới với khoảng cách ½ cửa vịnh, thì khoảng
cách này ngắn hơn. Như vậy chỉ còn có khi chỉ 40 hay 50 hải lý mà
thôi. Điều này cho thấy rằng cái âm mưu của Trung cộng hết sức là
lớn lao, và tham vọng của chúng lớn lắm. Chúng còn âm mưu tiến xa
hơn chứ không phải chỉ giới hạn ở Trường Sa.
Bắt đầu từ đảo Hải Nam, chúng ta có thấy cái căn cứ Tam Á. Đó là một
căn cứ hải quân ‘ bí mật’ mà người ta vừa mới phát hiện ra vào tháng
Tư 2008. Căn cứ Tam Á này là căn cứ hết sức là quan trọng để mà khởi
đầu công cuộc tiến về phía nam.
Căn cứ Tam Á đó nó có hai phần, phần thứ nhất là căn cứ bí mật có
khả năng chứa được 20 tàu ngầm nguyên tử 094. Hiện nay người ta biết
được rằng Trung Cộng đã có 5 chiếc tàu ngầm nguyên tử này. Chúng có
thể trang bị hỏa tiễn lên lục địa bắn xa gần 10.000 cây số mà đầu
đạn nguyên tử đó là loại đầu đạn có nhiều đạn.. Bộ quốc phòng Hoa Kỳ
tiên đoán rằng trong năm năm tới nữa nó sẽ có thêm 5 chiếc nữa.
Ngoài ra, Trung cộng có khoảng độ 57 chiếc, và một số là loại Song
S20 được trang bị bằng máy diesel của Đức. Khi chạy ngầm ở dưới biển
không phát tiếng động, thành ra từ ở trên vệ tinh không có thể khám
phá ra được khi nó nằm sâu ở dưới nước. Một số tàu ngầm này có trang
bị hỏa tiễn tầm xa vào 1000 dặm, loại hỏa tiễn có tên là Yingji-8,
có thể bắn từ ở dưới nước để tiêu diệt hàng không mẫu hạm ở trên mặt
nước.
Tam Á là căn cứ hết sức nguy hiểm và phía trái của căn cứ này là
vùng biển có tầm sâu là 5000 mét, là nơi rất tốt để làm nơi trú ẩn
cho các tàu ngầm nguyên tử.
Phần thứ hai liên quan tới 3 cái cầu tàu. Đây là cái cầu tàu dành
cho hàng không mẫu hạm và chuẩn bị để đủ giúp cho 6 hàng không mẫu
hạm có thể đậu được ở đây và tất cả những phương tiện trang bị dụng
cụ hay là quân lính hay hỏa tiễn có thể đưa lên trên hàng không mẫu
hạm. Hiện bây giờ mới xây xong một cái dài 800m, còn hai cái nữa thì
đang chuẩn bị xây. Câu hỏi là khi mà xây cầu tàu cho hàng không mẫu
hạm như thế này thì Trung cộng đã có tàu chưa. Câu trả lời là chưa
có, nhưng mà bây giờ đang chuẩn bị có.
Vào năm 1995 một bài viết của tôi để cho Viện Nghiên Cứu Hoover cũng
như để cho chính quyền Mỹ họ biết rằng Trung cộng vào lúc đó họ tính
rằng cái năm 2000 thì họ có một hạm đội biển xanh hoạt động ở biển
Đông. Hạm đội biển xanh này dự trù đến năm 2000 sẽ có ít nhất là một
cái hàng không mẫu hạm, Họ đã thượng lượng với Ukraine để mua một
chiếc Varyag với giá 2 tỉ MK. Tôi có in hình Varyag trong cuốn Bạch
Thư. Nhưng cho đến năm 2000 chẳng thấy gì cả và cho đến bây giờ mới
tìm thấy được một tài liệu liên quan tới hàng không mẫu hạm đó. Đặng
Tiểu Bình có ra lệnh rằng ngưng mua hàng không mẩu hạm để dành tiền
sản xuất võ khí sinh hóa. Nếu lập Hạm Đội Biển Xanh với hàng không
mẫu hạm đó ngay bây giờ thì chưa đủ sức để chống Mỹ, thì sẽ bị tiêu
diệt, thành ra hoãn lại. Giờ tin tức mới nhất là một thời gian ngắn
nữa là chiếc tâu cũ Varyag hay Kuznestsov của Liên bang Sô viết mà
họ mua trước đây sẽ sữa chữa xong.
LKT: Dạ thưa Giáo sư, trong một cuộc phỏng vấn của chúng tôi với Đại
sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Michael Michalak, ông ấy có nói rằng trong
cuộc tìm kiếm những quân nhân mất tích của Hải quân Hoa Kỳ ở Vịnh
Bắc Việt trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, bây giờ họ đã khởi động
những cuộc tìm kiếm đó và cuộc tìm kiếm đó đang khởi động rất tốt,
vậy thì điều đó nó nói lên ý nghĩa gì trong vấn đề an ninh quốc
phòng ở Vịnh Bắc Việt, thưa Giáo sư?
GS Canh: À! cái điều này thì tôi cũng đã biết. Từ lâu rồi ngay từ
thập niên 1980 thì cũng đã có cái vấn đề bàn thảo với Việt cộng là
tìm kiếm người Mỹ mất tích ở khắp nơi và trong đó có tìm kiếm người
Mỹ Mất Tích ở Vịnh Bắc Việt. Tại nơi đây khi máy bay Mỹ vào Việt Nam
bắn ở vùng Bắc Việt thì có một số rơi ở Vịnh Bắc Việt. Bây giờ, muốn
tìm người Mỹ Mất Tích nơi đó, thì hai bên cũng đã thỏa thuận trên
nguyên tắc với nhau một số điều kiện để mà tìm dò những máy bay rơi
ở đó. Điều này có nghĩa rằng Việt cộng sẽ xúc tiến nhiều hơn nữa để
tiếp tay với Mỹ, thỏa mãn những cái đòi hỏi của Mỹ về người Mỹ mất
tích. Rồi thì khi mà giúp được Mỹ như thế thì cũng hy vọng rằng Mỹ
sẽ tiếp tay bảo vệ an ninh cho Việt cộng,
Nhưng mà theo tôi nghĩ cái điều đó còn khó khăn lắm, còn xa vời, tại
vì ảnh hưởng của Trung cộng đối với Việt cộng nó quá lớn đi. Tôi gọi
những người lãnh đạo Việt cộng bây giờ là những người thừa sai của
TC để thực hiện những mưu đồ của Trung cộng. Như thế, điều ấy khó có
thể xảy ra trong tương lai gần.
LKT: Thưa Giáo sư, cũng trong cuộc phỏng vấn của chúng tôi với Đại
sứ Michael Michalak, chúng tôi có đặt một câu hỏi: theo như là lời
tuyên bố của ông Lê Công Phụng trong cuộc phỏng vấn của chúng tôi
thì Việt Nam hiện nay họ đang có phương án đưa vấn đề Hoàng Sa
Trường sa ra tòa án quốc tế và có thể dựa trên luật Biển 1982 tại
San Francisco. Tôi có hỏi ý kiến đó với ông Đại sứ Hoa Kỳ thì ông
Đại sứ nói đó là câu chuyện nó phải diễn tiến như vậy, quý vị cứ tự
nhiên. Vậy theo ý kiến của Giáo sư về hai cái lời tuyên bố của ông
Lê Công Phụng và Đại sứ Michalak như thế nào?
GS Canh: Theo tôi thấy thì những lời tuyên bố đó của Michael
Michalak chỉ là lời tuyên bố bình thường mà thôi. Giai quyế tranh
chấp quốc tế thì đã có các cơ cấu quốc tế phụ trách. Đó là Tòa án
quốc tế và luật biển 1982 ( không phải ở San Francisco). Còn với
Việt cộng thì như Lê công Phụng nói về việc Cộng Hòa Xã Hội Chủ
Nghĩa Việt nam đang dự tính đưa vấn đề ra Tòa Án Quốc Tế, đây là một
điều rất tích cực. Như như nhà báo Lý Kiến Trúc đã nói là do cái
Bạch Thư và việc công bố Bạch Thư, cũng như là bản lên tiếng của Ủy
ban Bảo toàn Lãnh thổ vào ngày 15 tháng Chín vừa rồi, cũng như tuyên
bố của tôi với đài phát thanh Á châu Tự do; từ trước đến nay, VC
ngậm miệng không bao giờ xác nhận Hoàng Sa đã mất. Nay thì mới xác
nhận “Hoàng Sa đã hoàn toàn thuộc Trung Quốc” và “có nhiều người đòi
đưa vấn đề ra tòa án quốc tế và đấu tranh ở Liên Hiệp Quốc”, và
“chúng ta đanh dự tính…” Nhiều người đã hỏi là cái giải pháp cho
Trường Sa và Hoàng Sa như thế nào? Câu tôi trả lời trong hiện trạng
là tòa án quốc tế, không ai có thể làm gì khác hơn là vấn đề tòa án
quốc tế. Với giải pháp tòa án quốc tế, thì ai là người có quyền đưa
ra vấn đề đó, ai là người có trách nhiệm đưa ra vấn đề đó. Vấn đề
lãnh thổ, lãnh hải là thuộc quyền của quốc gia, và chỉ có quốc gia
thành viên của Liên hiệp Quốc mới có quyền nêu vấn đề đó trước tòa
án quốc tế. Trường hợp này là CHXHCNVN . Thành ra vì vậy, tôi đòi
hỏi là cái trách nhiệm nhà cầm quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam phải
nêu vấn đề đó, và tôi đòi hỏi rằng đảng Cộng sản Việt Nam phải ra
lệnh cho Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam làm công việc đó, vì
chúng tôi chỉ là những tư nhân, là những người yêu nước Việt Nam,
chúng tôi đòi hỏi là họ phải bảo vệ quyền lợi những đất đai của ông
cha để lại..
Khi nói tới giải pháp tòa án quốc tế, có nghĩa là phải chơi cái trò
luật Biển mà quốc tế kêu gọi. Lên tiếng về ủng hộ “vẹn toàn lãnh
thổ” mà TT Bush nêu ra, và kêu gọi giải quyết tranh chấp bằng luật
pháp ( luật biển và tòa án quốc tế) của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, của
Đại sứ Michalak về chơi trò luật Biển là như vậy, không phải giải
quyết bằng võ lực.
Về vấn đề này, tháng 5 vừa qua, khi sang bên Hawaii dự lễ chiến sĩ
trận vong ở bên đó, tôi có nói chuyện với ĐĐ Timothy Keating, Tổng
tư lệnh Quân Đội Mỹ, vùng Thái Bình Dương về mối nguy cơ của Trung
Cộng và về việc chúng tôi đưa vấn đề ra Liên Hiệp Quốc để cảnh giác
những người ấy. Sau đó, chúng tôi gửi tài liệu cho ông ta. Vào ngày
30 tháng 6, tại Hội Nghị Shangri-La ở Singapore, ông ấy tuyên bố
rằng không có người nào có thể đánh bại được Hoa Kỳ đâu và nếu mà có
tranh chấp gì với nhau thì đã có luật Biển.
Tuyên bố của Michalak cũng nằm trong giới hạn đó.
Đó là điều mà cả quốc tế muốn. Đó là luật chơi của các nước văn minh
và của cộng đồng quốc tế, với mong muốn là duy trì ổn cố, trật tự và
hòa bình cho nhân loại.
LKT: Nhưng mà thưa Giáo sư chúng tôi cũng xin phép được nhắc lại lời
nói của ông Lê Công Phụng là dù phương án Việt Nam có đưa ra nhưng
vấn đề là ở chỗ Trung quốc họ không chịu ngồi vào hội nghị thì không
có cách nào để có thể nói chuyện được, như vậy thì như thế nào?
GS Canh: Vâng! Đúng. Có thể là nó không chịu. Điều này không thể
được viện dẫn để tránh né trách nhiệm. Ngay cả đến khi mà nó chịu
ngồi trong bàn ‘hội nghị’, tham dự vào tòa án quốc tế mà do Việt
cộng nêu ra như vậy và giả thử rằng cái phán quyết thắng về phần
‘nguyên cáo’- mà tôi chắc chắn một nghìn phần trăm là thắng, với
những gì trình bày trong cuốn Bạch Thư có đầy đủ yếu tố về phương
diện lịch sử, về phương diện pháp lý cũng như là về phương diện địa
lý ( dù chỉ là sơ lược để làm căn bản cho hồ sơ vụ kiện). Tài sản
của chúng ta gồm toàn thể Hoàng Sa dù nay bị chiếm đóng. Còn Trường
Sa ở xa mãi dưới phía Nam, Trung cộng không làm gì được, không có
cách gì biện minh được rằng chúng có chủ quyền ở trên đó. Ngay cả
với Hoàng Sa, như về phương diện địa lý, tôi đã dựa theo Bản đồ của
Nationnal Geographic Society ( 1968), có in trong cuốn “Biển Đông
với Hoàng Sa và Trường Sa” của học giả Vũ hữu San để chứng minh rằng
Hoàng Sa la của Việt nam. Thí dụ đảo Tri Tôn mà tôi thường nói nó
sát với lại bờ biển Đà Nẵng của mình. Đảo ấy cách bờ biển Việt nam
là một trăm hai mươi ba hải hải lý thôi, trong khi đó từ một hòn đảo
khác, gần Trung Hoa Lục địa nhất, thì khoảng cách xa hơn. Đấy là
chưa kể đến cái lục địa nằm ở dưới quần đảo Hoàng Sa là giải đất nối
liền với lục địa Việt nam. Vào năm 1925 hải học viện Nha Trang có cử
một toán khoa học gia đi ra ngoài Hoàng Sa để nghiên cứu. Toán đó đã
tìm thấy được rằng Hoàng Sa là một lục địa của Việt Nam chìm dưới
biển nối liền với đất Việt Nam. Trong khi đó về hướng bắc có hai cái
rãnh nước sâu cả ngàn thước, nó tách Hoàng Sa với lại đất của Trung
Hoa. Như thế, Hoàng Sa không thể nào thuộc về bên Trung Hoa được.
Chỉ một điểm đó thôi, thì mình cũng đã thắng rồi. Chưa kể về phương
diện lịch sử thì GS Trần huy Bích của Đại Học University of Southern
California đã liệt kê đầy đủ các tài liệu với nhiều nguồn gốc khác
nhau chứng minh rằng cả 2 quần đảo này là cùa Việt nam từ lâu đời.
Còn về phương diện pháp lý, tôi xử dụng cái tài liệu của Giáo sư
Monique Chemillier- Gendreau của Đại học Paris chứng minh chủ quyền
của Việt nam trên 2 quần đảo ấy.
Bây giờ giả thử như người ta kiện, nó không chịu thì mình làm gì?
Thức tế thì tòa án quốc tế trong trường hợp này, không ai có thể
cưỡng hành được phán quyết của tòa án, trừ phi có một quyêt nghị cua
Đội Đồng Bảo An, Liên Hiệp Quốc. Mà ở HĐBA, lại phải có chấp thuận
của tất cả 5 hội Viên Thường Trực. Trung cộng lại là một trong 5
người đó. Chúng sẽ phủ quyết. Vận động được một nghị quyêt trong
trường hợp này không giản dị để đạt mục tiêu. Nhất là CHXHCNVN lại
không có khả năng, không uy tín quốc tế gì, có lẽ uy tín này ở mức
thấp nhất, dù có ngồi trong Hội Đồng Bảo An. Như vậy, phán quyết sẽ
không được thi hành. Tổ chức quốc tế này không có một cơ quan để lo
“cường hành” các quyết định của Tòa án. Vậy, thì mình chẳng làm gì
được. Nhưng ít nhất dựa trên cái căn bản đó để sử dụng về sau: lập
một căn bản biện minh quốc tế để hành động. Tuyên bố của Bush, của
Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, của Michalak và những gì được phản ảnh ở Hội
nghị Shangri-La…. là biểu tượng của sự hỗ trợ quốc tế cho chính
nghĩa của dân tộc Việt nam. Và đồng thời với quyền lợi của quốc tế
trên Biển Đông là nguyên cớ quan trọng để giúp bảo vệ tài sản của
ông cha ta đã đổ xương máu giữ gìn và để lại. Cũng có thể là một
chục năm hay lâu hơn nữa có những hành động khác. Vấn đề bây giờ là
thứ nhất Việt cộng phải ra đi; thứ hai nữa là chúng ta phải tạo dựng
một thể chế có thể huy động sức mạnh của toàn dân, thay vì chủ
trương của VC như ngày nay khủng bố, chia rẽ dân chúng. Chúng ta
phải có một sức mạnh về phương diện kinh tế và đoàn kết dân tộc…..
thì tôi chắc chắn rằng chúng ta có thể đòi lại được bằng sức mạnh
những gì bọn bá quyền Bắc Kinh đã cướp với sự đồng lõa của Việt
cộng.
Đòi lại các phần đất đã mất hay ngăn ngừa bọn Bắc kinh tiếp tục lấn
chiếm thêm trong trường hợp có một phán quyết như vậy sẽ nhận được
sự hỗ trợ của quốc tế. Đó là điều rất quan trọng, vì lẽ trong trật
tự thế giới mới, không ai có thễ đi ngược lại, chống lại các mục
tiêu hòa bình và trật tự của thế giới như một số kẻ điên cuồng đã
làm trong thế kỷ trước. Nếu việc đó xảy ra thì hậu quả là những kẻ
điên cuồng như vậy sẽ bị gánh chịu một cách thê thảm.
Âm mưu của Trung cộng là càng kéo dài sự chiếm đóng thì càng hay, để
tạo một sự đã rồi và 100 năm sau, không ai có thể làm gì được. Vả sự
đồng lõa của Hồ chí Minh và Đảng Cộng sản Việt nam là giúp Trung
cộng đạt mục tiêu đó.
Vậy ít nhất, bây giờ, người Việt hải ngoại phải có nghĩa vụ làm
những gì để đạt nền tảnh cho công việc bảo tồn đất tổ trong tương
lai, kể cả trong trường kỳ. Hãy nhìn những hình ảnh mà tôi cho trình
chiếu sau đây về những kiến trúc kiên cố trên quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa thì có ý niệm về nguy cơ đó.
Cũng nên xem các hình ành về các tòa nhà xây trong khu vực thác bản
Gốc nữa.
LKT: Sự trình bày toàn cảnh rất chi tiết của Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn
Văn Canh về biên giới Việt Trung, về Vịnh Bắc Việt, về Nghị Định Thư
đánh cá giữa Việt Nam và Trung Quốc, về Hoàng Sa và Trường Sa và về
mối quan hệ hiện nay giữa Việt Nam, Trung Quốc và Hoa Kỳ rất là đầy
đủ. Vậy thì thưa Giáo sư, sau khi cái toàn cảnh mà được Giáo sư vẽ
ra như thế thì đối với chúng ta là người Việt quốc gia tại hải
ngoại, dù chúng ta không còn chính quyền trong tay, vì chúng ta
không có một chính phủ lưu vong, nhưng chúng ta có một trách nhiệm
đó là tình yêu nước thiêng liêng của người Việt Nam tại hải ngoại,
với trách nhiệm đó theo Giáo sư thì chúng ta sẽ làm như thế nào đối
với vấn đề mà chúng tôi xin được tạm trích câu Quốc gia Hưng vong,
Thất phu Hữu trách ?
GS Canh: Cái câu hỏi này khó quá theo ý của nhà báo cũng như là
trong suốt cả hàng mấy chục năm nay, đi đến đâu tôi cũng bị hỏi là
bây giờ ông làm gì để lấy lại nước, lấy lại Hoàng Sa Trường Sa hay
v.v..., thì tôi trả lời là chúng tôi chỉ là người tị nạn cộng sản.
Là người trí thức, thì chúng tôi biết là chúng tôi phải làm gì trong
giới hạn của chúng tôi. Ít nhất trong cuốn Bạch Thư Hoàng Sa và
Trường Sa này, chúng tôi nói cho thế giới và phải cảnh giác, cho thế
giới biết rằng đây nó là một nguy cơ lớn, mà nguy cơ lớn này không
phải là chỉ cho dân tộc Việt Nam đâu, mà nguy cơ lớn này cho cả toàn
thế giới. Vì thế, trong thư mà gửi cho Tổng Thư Ký và cho 192 thành
viên của Liên hiệp Quốc cũng như là các chính phủ quốc gia ở trên
thế giới , chúng tôi cảnh giác cho họ biết để họ có thể suy nghĩ,
chuẩn bị cho những tình thế xấu nhất mà tôi nghĩ sẽ xảy ra. Giải
quyết tình thế xấu nhất ấy sẽ giúp giải quyết những vấn đề của Việt
nam. Quyền lợi của dân Việt đi song hành với quyền lợi của thế giới.
Đó là hòa bình, ôn cố, trước hết là trong khu vực, và có liên hệ mật
thiết với thế giới.
ĐÍNH KÈM:
Sau đây là một ít con số và địa điểm trích dẫn từ tài liệu “ VẤN ĐỀ
BIÊN GIỚI GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC” do Đảng Cộng sản Việt nam phổ
biến năm 1979 (1). Tài liệu này cho thấy Lê công Phụng nói dối hoàn
toàn.
1) Về chênh lệch hơn 1 cây số trên suốt dọc biên giới dài 1450 cây
số.
a) Khu vực Trình Tường, Quảng Ninh. Khu vực này dài 6 cây số và TC
chiếm sâu vào lãnh thổ Việt nam hơn 1 cây số. Khu vực này nay sát
nhập vào công xã Đồng Tâm, Đông hưng. Đường biên giới mới lùi tới
đồi Khâu Trúc cùa Việt nam.
b)Và các xã Thanh Lòa, huyện Cao Lộc thuộc Lạng sơn; Khẳm Khâu,
thuộc Cao Bằng; Tà Lũng, Là Phù Phìn, Minh Tân thuộc Hà Tuyên; xã
Năm Chảy ở Hoàng Liên Sơn ( xả này dài hơn 4 km và sâu hơn 1 km)
cũng đã nằm trong lãnh thổ TC. Riêng tại xã Năm Chảy, Việt nam mất
một diện tích độ 300 hectares.
Tổng cộng có độ 40 đia điểm tương tự trên đường biên giới bị TC
chiếm và đưa dân sang lập nghiệp, rồi hợp thức hóa.
c) Ngay tại Ải Nam Quan, hồi 1955, Hồ chí Minh nhờ Mao trạch Đông
nới dài thêm 300 m đường hỏa xa của Trung Hoa sang Viet nam để 2
đường hỏa xa của 2 bên nối liền với nhau cho thuận tiện giao thông.
Mao chập thuận và sau một thời gian Hồ nói rằng đường biên giới của
Việt nam ở cách nơi nối giáp đó về hướng Bắc là 300m như đã có từ cả
trăm năn nay. Hồ được bảo rằng biên giới là nơi hai đường hỏa xa nối
với nhau. Mật 300m. Hồ câm miệng. Chưa hết, về sau này lính TC
khiêng cột mốc số 18, nơi biên giới quốc gia tại Ải Nam Quan trên
quốc lộ 1 vào sâu độ 200m nữa. Như vậy nơi đó mật độ ½ cây số.
e)
Thác bản Giốc: Tại khu cột mốc số 53 thuộc xã Đàm Thúy, huyện Trùng
Khánh, Cao Bằng trên sông Qui Thuận có thác Bản Giốc của Việt nam.
TC cho cả ngàn lính sang lãnh thổ VN đổ bê tông cốt sắt cắt ngang
nhánh sông biên giới, vẽ lại bản đồ chiếm một phần Thác Bản Giốc và
cướp cả cồn Pò Thoong của Việt nam.
1 Phần chính Thác bản Gốc, nằm phía Bắc, nay đã thuộc Trung Cộng.và
đã đổi tên thành Detian Waterfal.l (thác Đức Tiên, Đệ Nhất Hùng Quan
Nam Trung Hoa)
2.
Phần phụ nằm về phía Nam, còn là của Việt nam
Nguồn bài viết: blogger Măng
Nguồn ảnh: blogger Điếu Cày
d) Khiêng các mộc số 136 ở Cao Bằng, các mốc số 41,42 43 ở Lạng Sơn
thuộc các khu vực Kùm Mu, Kim Ngân, và Mẫu Sơn (dài 9 cây số) sâu
vào nội địa Việt nam 2 km50, mất diện tích là 1,000 hectares; khu
vực Nà Pàng-Kéo Trình ( mốc 29,30, 31) ở Cao Bằng, dài 6 km 450, sâu
vào đất Việt nam 1 km300, mất diện tích là 200 hectares.
f) Dùng lực lượng võ trang đàn áp người Việt, trục xuất họ và chiếm
nhà đất của họ, rồi đưa dân Trung cộng sang lập nghiệp tại nhiều nơi
thay thế dân Việt….
2. Về các điểm cao .
Cuối cùng ”còn 6 điểm cao” và “chúng ta đưa đường biên giới chạy lên
gữa các điểm cao đó.”
Lới biện minh này cho thấy rằng 27 điểm nêu trên là của Việt nam, và
như thế nằm trong lãnh thổ Việt nam. Trung cộng đã chiếm 27 điểm ấy.
Nay vì nhờ “đấu tranh quyết liệt” nên TC đã trà lai, chỉ trừ 6 điểm
cao. Sáu điểm cao này được hiểu là các dãy núi nằm dọc biên giới.
Nay Phụng đã “thành công” đưa đường biên giới lên giữa các các điểm
cao, hay giữa các dãy núi ấy, và như vậy là không mất đất.
Vậy lời khai này, nếu có đúng là sự thật, thì đã tự nó tố cáo có
chấp thuận chuyển nhượng một diện tích đất tính từ phân nửa ( ½)
đỉnh của cả 6 dãy núi kể trên về phía Bắc.
Ngoài ra, Phụng trả lời làm sao về các dã núi sau:
-Các dãy núi 1250, 1545, 1509, 772 và 233 thuộc tỉnh Hà Giang đã
thuộc Trung Cộng. Người ta được biết, dãy 1509 là núi Đất thuộc xã
Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên đã lọt vào tay TC và TC đã đổi tên thành
Lão Sơn. Và dãy 1250 là núi Bắc, TC đã đối tên thành Giải Âm Sơn.
Các cao địa này là vị trí chiến lược để phòng thủ Việt nam chống
quân Bắc phương. Các dã này nay đã chuyển cho Trung Cộng.
- Các dãy 820 và 636 thuộc xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, Lạng sơn
nằm sát cạnh cửa Ải Nam Quan về phía Tây, cạnh quốc lộ 1, là cũng
vào tay TC. Và khu Bình Độ 400 huyện Cao Lộc, Lạng sơn , nằm sau cột
mốc 26, về phía Đông của quốc lộ 1 cũng cùng chung số phận. Các dãy
núi này cũng là các khu vực quan yếu cho việc phòng thủ, ngăn quân
xâm lăng đến từ phương Bắc. Tại nơi đây, nhờ địa thế hiểm trở, ông
cha chúng ta đã đánh bại quân thù. Mất các vùng đất này, Việt nam
gặp nhiều khó khăn bảo vệ giang sơn.
Vậy với bằng cớ nêu trên, Đảng Cộng Sản trả lời với quốc dân Việt
nam như thế nào khi nói rằng chỉ mật có 1 cây số?
(1) Nhà Xuất Bản Sự Thật, Hà nội, 1979; (Library of Congress Online
Catalog
II.VÙNG VỊNH BẮC VIỆT.
Phụng tuyên bố:
“Chúng ta phân chia Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc là dựa trên luật pháp
quốc tế.…Khi ký kết hiệp định, nếu như so diện tích giữa chúng ta và
Trung Quốc, thì chúng ta hơn Trung Quốc 8 nghìn cây số vuông. Chúng
ta không mất. Tại sao Trung Quốc chấp nhận cho chúng ta hơn 8 nghìn
cây số vuông? Bởi vì bờ biển của ta là bờ biển lõm, nó vòng vào thế
này, bờ biển Trung Quốc Hải Nam thì nó vòng ra thế này. .... Nói mất
10 nghìn thước vuông (sic) thì vô lý, không đúng đâu. Chúng tôi cũng
không muốn nói cụ thể là lúc chia nó như thế nào, thế nào. ….Cũng có
lúc đàm phán Trung Quốc người ta xung phong hiến cho chúng tôi 3
nghìn cây số vuông ở chỗ khác để họ lấy chỗ này chỉ độ 150 cây số
vuông. Nhưng mình không chịu, mình không lấy cái nước, cái mặt nước
để làm gì. Mình tính cái ở dưới, vừa giữ được chủ quyền đất đai, mà
vừa giữ được lợi ích cho quốc gia.Câu hỏi: Phụng nhấn mạnh đến luật
quốc tế làm cơ sở “đàm phán”, đặc biệt là nhấn mạnh đến hiệp ước
Thiên Tân 1885 làm nền tảng thương thuyết rối kết luận rằng không
những không mất 10,000 cấy số vuông, (không phải 10,000 thước như
nói ở trên) , mà còn được lợi 8000 cây số vuông do TC ‘cho VC’. Hơn
nữa, TC còn xung phong cho VC 3000 cây số vuông, đổi lại TC chỉ muốn
150 cây số vuông và VC không chịu …., và “giữ được chủ quyền đất đai
và, lợi ích quốc gia”
Với lời tuyên bố trên, VC đã ‘đại thành công’ trong đàm phán với kẻ
thù thuộc dòng dõi nhà Hán tham lam, dù theo thói quen chúng lấn
từng thước đất (không phải cây số) của Việt nam. Một số trường hợp
như xảy ra ở trên mà nhiều người biết và chính Đảng CSVN đã tố cáo
mà Phụng có cả gan dấu giếm, thì ở những nơi Đảng cấm dân chúng lui
tới, hoặc rừng núi sâu, hay ở các nơi xa trong vịnh Bắc việt, liệu
có ai có phương tiện và cơ hội để tìm biết được sự thật?
Phụng tỏ ra “có vẻ” rất hài lòng, nếu không nói rằng hãnh diện, khi
nói rằng TC đã cho “ta” 8,000 cây số vuông, và TC còn xung phong cho
thêm 3,000 cây số khác mà “ta” không [thèm] nhận, chỉ để đổi lấy 150
cs mà thôi.
Câu hỏi có liên quan đến khía cạnh phân định vùng Vịnh Bắc Việt bắt
nguồn từ Hiệp Ước Thiên Tân được Pháp và nhà Thanh ký năm 1885. Để
thi hành Hiệp ước này, hai bên đạ ký một văn kiên gọi là công ước
1887 trong đó họ ấn định ranh giới trong vùng vịnh. Trong vùng này,
họ vẻ một bàn đồ chia Vịnh làm 2. Trên bản đồ, họ vẽ một đường thẳng
Bắc Nam bắt đầu từ Móng Cái, chạy qua đảo Trà Cổ xuống cửa vịnh: bên
phúa Đông, tại một điểm ở đảo Hải Nam và còn bên phía Tây là đảo Cồn
Cỏ của Việt nam.
Đường ấy được đặt tên là Đường Màu Đỏ, được Công ước gọi là đường
phân chỉa ranh giới trong Vịnh.
Hiệp ước Thiên Tân do Patrenôtre của Pháp ký với Lý Hồng Chương của
nhà Thanh tháng 6 năm 1885 là luật quốc tế đấy. Hiệp ước đó đã dược
thi hành hơn 100 năm rồi. Và được Màu Đỏ là Ranh Giới phân chìa
Vịnh. Nay TC đòi xét lại sự phân chia vùng vịnh này với âm mưu chiếm
thêm lãnh hải của Việt nam. TC ngang ngược tuyên bố đường màu đỏ chỉ
là đường “hành chánh” để chỉ định các đảo trong khu vực này, đòi hủy
bỏ đường đó để lập ra đường ranh giới chính thức. VC đã nhượng bộ và
vẽ lại đường ranh và đường đó nay chạy qua 21 điểm nằm giữa vịnh để
phân chia vịnh làm 2 như đươc qui định trong hiệp ước 2000. VC đã
nhượng bộ và hậu quả là hiến dâng một phần lãnh hải cho TC.
Hiến dâng bao nhiêu?
Tổng số diện tích vùng Vịnh là 123, 700 cây số vuông. Và Công ước
1887 qui định rằng Việt nam có 63% hay 77,931 cs vuông, phía TH có
37% hay 45,769 cs vuông. Nay hiệp ước phân chia lại Vịnh do VC ký
với TC được phân chia lại thì VN chỉ còn được 54% hay 66,798 cs
vuông và TC được tăng từ 37% lên 46% hay
56,902 . Kết quả là VC nhượng cho TC 11,133 cs vuông.
|