|
Mở Đầu:
Trân trọng cám ơn bà TNS Boxer chủ tịch, TNS Murkowki và quý vị trong tiểu
ban đã cho phép tôi được điều trần về Mối Liên Hệ Song Phương Mỹ- Việt.
Tôi mới vừa từ Việt Nam về và rất vui mừng được dịp chia xẻ cùng quý vị
những cảm nghĩ của tôi về Việt Nam
Mối liên hệ Mỹ-Việt đã phát triển một cách sâu rộng trong một số lãnh vực
kể từ khi chúng ta tái lập bang giao với Việt Nam năm 1995. Chuyến công du
của TT. Bush tới Hà Nội năm 2006 để tham dự Hội Nghị Hợp Tác Kinh Tế Châu
Á-Thái Bình Dương (APEC) và chuyến viếng thăm Hoa Thịnh Đốn của chủ tịch
Nguyễn Minh Triết vào Tháng 6, 2007 đã phản ảnh những bước tiến bộ trong
mối quan hệ của chúng ta. Tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn, đặc
biệt là lãnh vực nhân quyền. Nói chung, chúng ta đã thực hiện được những
tiến bộ rộng lớn trong những vấn đề hai bên cùng có chung quyền lợi cũng
như khả năng của chúng ta can dự một cách thẳng thắn vào những vấn đề mà
hai bên có những khác biệt. Tiếp tục can dự và cùng chung giải quyết với
Việt Nam hiển nhiên là mối quan tâm của chúng ta.
Những Liên Hệ Song Phương: Từ Đối Đầu Tới Hợp Tác
Bước khởi đầu tốt nhất để duyệt lại quá trình mở ra mối bang giao giữa hai
quốc gia là nhìn vào sự chuyển đổi mạnh mẽ của quốc gia Việt Nam. Khi
chúng ta bắt đầu tái can dự (re-engaging) vào Việt Nam những năm 1990, sứ
sở này mới vừa ra khỏi những năm còn cuồng nhiệt với chủ nghĩa Mác. Những
năm tháng đó đã tàn phá nền kinh tế vẫn còn lảo đảo vì chiến tranh, xô đẩy
hằng trăm ngàn người vào các trại cải tạo hoặc trốn chạy sang Hoa Kỳ hay
vào các quốc gia khác. Chính sách ngọai giao của Việt Nam lúc bấy giờ là
liên kết chặt chẽ với Liên-Sô, và cũng vừa chấm dứt một thập niên chiếm
đóng Cambodia.
Các nhà lãnh đạo Việt Nam đã đảo ngược con đường đi vào ngõ cụt này vào
cuối thập niên 1980 bằng chính sách “Đổi Mới” để thúc đẩy kinh tế. Họ từ
bỏ con đường họach định trung ương mà thiên về những nỗ lực thúc đẩy khu
vực tư nhân. Các nhà lãnh đạo Việt Nam thấy rằng họ phải gia nhập vào kinh
tế thế giới để lôi cuốn thương mại quốc tế, đầu tư và kỹ thuật. Kết quả
là, cuộc đổi thay này đã tạo ra một cuộc cách mạng về kinh tế nhanh chóng
nhất trong lịch sử cận đại. Hoa Kỳ đã khích lệ hướng đi mới này và đã tích
cực giúp đỡ những đổi thay tại Việt Nam trong hơn một thập niên, qua những
trợ giúp về phát triển và chính sách thương mại.
Nếu Việt Nam có thể tiến hành một cách hữu hiệu cải tổ kinh tế thị trường
hơn nữa, họ có tiềm năng theo kịp những Con Rồng Á Châu. Tổng Sản Lượng
Quốc Gia (GDP) tăng 8.5 % trong năm 2007 đó là mức gia tăng cao nhất trong
thập niên. Giới trung lưu đô thị cũng đã gia tăng và thị trường bán lẻ
cũng mở rộng. Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) đã mô tả đây là chiến dịch
chống nghèo đói (xóa đói giảm nghèo) thành công nhất. Việt Nam đã giảm con
số nghèo đói từ ¾ dân số xuống còn 14% năm 2007. Để thành công trong tham
vọng trở thành một quốc gia kỹ nghệ vào năm 2020, Việt Nam còn phải làm
nhiều hơn nữa để phát triển hạ tầng cơ sở vật chất lẫn nhân sự, bao gồm cả
việc giải quyết những khiếm khuyết nghiêm trọng trong hệ thống giáo dục.
Việt Nam đang mau chóng hội nhập vào thế giới. Quốc gia này đang gia tăng
ảnh hưởng trong Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn Đàn Hợp Tác
Kinh Tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC), tham gia vào Tổ Chức Thương Mại Thế
Giới (WTO) Tháng 1, 2007. Tháng Giêng năm nay, Việt Nam gia nhập Hội Đồng
Bảo An LHQ nhiệm kỳ hai năm. Chúng ta làm việc chặt chẽ với Việt Nam trong
Hội Đồng này và củng cố sự hợp tác với Việt Nam trong diễn đàn quốc tế
quan trọng này trong hai năm tới.
Xây dựng trên những hứa hẹn từ Thỏa Hiệp Thương Mại Song Phương (BTA) 2001
(US-Vietnam Bilateral Trade Agreement) chúng ta đã và đang tiếp tục mở
rộng quan hệ kinh tế qua những gia tăng lớn lao về thương mại và đầu tư.
Vào cuối năm 2006, Việt Nam đã được ban cấp Quy Chế Thương Mại Thường Trực
với Hoa Kỳ (Permanent Normal Trade Relations). Rồi từ đó Việt Nam gia nhập
WTO vào Tháng Giêng 2007 với lợi ích cho hai quốc gia. Vào Tháng Sáu 2007,
Hoa Kỳ và Việt Nam đã chung kết Thỏa Hiệp Chỉ Đạo Về Thương Mại và Đầu Tư
(TIFA- Trade and Investment Framework Agreement) để giúp cho việc thi hành
Quy Chế Thương Mại Bình Thường cũng như những cam kết của Việt Nam khi gia
nhập WTO và cũng để xác nhận những cơ hội mới để thúc đẩy những quan hệ về
thương mại và đầu tư. Sự tiếp cận của Việt Nam với WTO đã giúp thúc đẩy
thương mại hai chiều là 12.5 tỉ trong năm 2007- tức gia tăng 29% so với
năm 2006. Trong khi cán cân thương mại lệch về phía Việt Nam, nhưng xuất
cảng của Hoa Kỳ sang Việt Nam gia tăng 73% trong năm 2007, nhanh gấp ba
lần số xuất cảng của Việt Nam sang Hoa Kỳ. Như chủ tịch Triết xác nhận
trong chuyến viếng thăm Hoa Kỳ vào Tháng 6, Việt Nam hoan nghênh số đầu từ
hơn nữa từ Hoa Kỳ. Bộ Trưởng Thương Mại Gutirrez đã hướng dẫn giám đốc
điều hành của 22 công ty lớn của Hoa Kỳ tới Việt Nam vào Tháng 11, 2007 để
thương thảo và gia tăng xuất cảng.
Sự trợ giúp của Hoa Kỳ cho Việt Nam để cải tổ kinh tế tập trung vào sự
quản trị tốt và trong sáng hầu làm dễ dàng cho mối liên hệ thương mại và
đầu tư của chúng ta. Qua những dự án viện trợ như Trợ Giúp Thúc Đẩy Thương
Mại - Support for Trade Acceleration (STAR), chúng ta giúp ý kiến và cố
vấn cho hằng lọat các luật lệ mới liên quan đến việc thi hành Thỏa Hiệp
Thương Mại Song Phương (BTA) và những cam kết khi vào WTO. Những nỗ lực
này giúp chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam bằng cách xúc tiến một mức độ cho
lãnh vực tư nhân, bao gồm cả cả các công ty trong nước và ngọai quốc. Cùng
xu hướng đó, viện trợ Mỹ dành cho chương trình Việt Nam Tự Lập Cạnh Tranh
(Vietnam Competetiveness Initiative) thiết lập một chỉ số xếp hạng mỗi
tỉnh trong việc dễ dàng làm thương mại, dựa trên nhãn quan của chính các
công ty Việt Nam. Nhà cầm quyền Việt Nam đang xử dụng phương tiện này để
khích lệ sự trong sáng hơn và các biện pháp chống tham nhũng tại cấp địa
phương.
Kết quả là các công ty tư nhân Việt Nam đã có ảnh hưởng mới trong việc
họach định chính sách kinh tế của nhà cầm quyền. Một vài nhà lãnh đạo Việt
Nam đã bày tỏ quan tâm tới vấn đề mở rộng hơn nữa chương trình quản trị
kinh tế của chúng ta vào các lãnh vực cải cách pháp lý và hành chánh.
Những vấn đề trong khu vực và an ninh:
Về vấn đề của khu vực và an ninh, sự hợp tác với Việt Nam của chúng ta mở
rộng một cách vững chắc. Trong ASIAN và APEC, sự can dự của chúng ta vào
các vấn đề như tự do kinh doanh và chống khủng bố tăng tiến cùng với đà mở
rộng ảnh hưởng của Việt Nam. Tại Hội Đồng Bảo An LHQ, chúng ta tìm kiếm sự
hỗ trợ của họ trên tất cả các vấn đề an ninh và hòa bình thế giới. Đầu
tháng này, Việt Nam đã bỏ phiếu thuận về một nghị quyết mới của Hội Đồng
Bảo An LHQ cấm vận Iran. Chúng ta hy vọng củng cố sự hợp tác này suốt
nhiệm kỳ của Việt Nam tại Hội Đồng. Đứng về phương diện song phương, chúng
ta giúp Việt Nam xây dựng khả năng gìn giữ hòa bình và khả năng tìm-và-
cứu cấp (seach –and –rescue) thông qua những chương trình Đào Tạo và Huấn
Luyện Quân Sự Quốc Tế và các chiến hạm Hải Quân Hoa Kỳ đang víếng thăm các
hải cảng Việt Nam. Tàu bệnh viện USNS Mercy dự định viếng Việt Nam vào mùa
Hè năm nay.
Chống bệnh Aid/Hiv và cúm gia cầm:
Trong vài năm vừa qua, sự hợp tác của chúng ta trên các vấn đề y tế nghiêm
trọng như bệnh Aid/Hiv và cúm gia cầm đã gia tăng một các nhanh chóng. Nhà
cầm quyền Việt Nam đã là người cộng tác nhiệt thành và cởi mở trong cả
việc chống lại những de dọa về y tế tranh lãnh vực tòan cầu. Việt Nam đã
hoan nghênh trợ giúp của Hoa Kỳ trong việc chống lại bệnh cúm gia cầm và
làm việc chặt chẽ với chúng ta trong những lãnh vực này. Những đợt bộc
phát cúm gia cầm đã khiến bốn người chết tại Việt Nam năm nay. Chúng ta
đứng thứ nhì trong số tặng dữ lớn nhất cho Việt Nam, đã góp khỏang 23
triệu từ năm 2005, kể cả 10 triệu riêng tài khóa 2007. Sự trợ giúp của
chúng ta tập trung vào chuẩn bị cho trường hợp khẩn cấp, khả năng thí
nghiệm và ý thức của quần chúng. Chúng ta làm việc với Việt Nam để chuyển
từ phản ứng trong trường hợp khẩn cấp có hướng dẫn sang phương pháp quy
họach kéo dài. Việt Nam cũng nằm trong 15 quốc gia được Kế Họach Khẩn Cấp
Cứu Trợ Bệnh AIDS của Tổng Thống lưu tâm và trợ giúp cho bệnh AIDS đã
chiếm một phần rất lớn trong trợ giúp của chúng ta cho Việt Nam. Chỉ trong
tài khóa 2007 không thôi, chúng ta đã chi 66 triệu cho việc phòng ngừa,
chăm sóc và chữa trị bệnh AIDS.
Vấn Đề Nhân Quyền:
Sự hội nhập kinh tế và văn hóa vào thế giới của Việt Nam đã giúp mở cửa xã
hội và nới rộng tự do. Công dân Việt Nam ngày nay có tự do hơn trong đời
sống, làm việc, thờ phượng và hưởng sự cải thiện đáng kể trong mức sống.
Tuy nhiên trong lãnh vực chính trị và tự do của công dân, vẫn còn tồn tại
nhiều khiếm khuyết. Người dân không có quyền tự do chọn lựa người lãnh
đạo, họ bị bắt giữ khi phát biểu nguyện vọng của họ trong ôn hòa. Nhà cầm
quyền tiếp tục duy trì hạn chế gắt gao về tự do báo chí, tự do ngôn luận,
hội họp và nội dung trao đổi trên hệ thống liên mạng tòan cầu. Vào đầu năm
2007, nhà cầm quyền đã tung chiến dịch đàn áp các nhà đối kháng, bắt giữ
và bỏ tù nhiều cá nhân có liên hệ tới Khối 8406 và các nhóm đấu tranh cho
dân chủ khác. Một số vẫn còn đang bị giam giữ.
Vào Tháng 11, 2007 nhà cầm quyền Việt Nam đã bắt giữ một nhóm gồm các nhà
đấu tranh dân chủ trong đó có hai công dân Hoa Kỳ. Do áp lực từ chính phủ
lẫn quốc hội và từ rất nhiều cơ quan khác trong cộng đồng thế giới, một
vài người đã được thả tự do trong đó có một công dân Hoa Kỳ. Một công dân
Hoa Kỳ khác là BS Nguyễn Quốc Quân vẫn còn bị giam giữ tại Thành Phố HCM.
Trong số những nhà đối kháng có tên tuổi còn bị giam giữ có LM Nguyễn Văn
Lý, Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân. Trong chuyến viếng thăm Hà Nội
tháng qua, tôi đã nêu những trường hợp này với các giới chức cao cấp Việt
Nam và nhấn mạnh rằng chúng ta phản đối bất kỳ sự bắt giam những cá nhân
đã phát biểu quan điểm của họ trong ôn hòa và cũng nói rõ rằng tất cả
những ai bị bắt giữ như thế đều phải được trả tự do ngay lập tức.
Bên cạnh những thóai bộ như vậy, đã có một vài tiến bộ trong hai năm vừa
qua, đó là: Sự tái đàm phán về những vấn đề nhân quyền, việc trả tự do cho
một vài tù nhân mà chúng ta quan tâm (prisoners of concern), cộng đồng
quốc tế thăm viếng dễ dàng hơn vùng Tây Nguyên, các trại giam để thẩm
lượng và sự thu hồi Nghị Định 31CP – một nghị định cho phép nhà cầm quyền
vượt qua giới hạn luật pháp. Những giới chức thăm viếng từ Việt Nam, chẳng
hạn như những giới chức cao cấp vùng Tây Nguyên thăm viếng Hoa Thịnh Đốn
tháng này đã chú ý hơn đến việc gặp gỡ các cơ quan phi chính phủ (NGO),
các nhóm người Mỹ gốc Việt và các thành viên của Quốc Hội để thảo luận về
vấn đề nhân quyền. Chúng ta mạnh mẽ khích lệ hình thái làm việc chung này.
Việt Nam cũng đã tiến hành một vài biện pháp can đảm để chống tham nhũng.
Tuần qua, một viên chức cao cấp của Đảng CSVN tại Tỉnh Cần Thơ – Miền Nam
Việt Nam đã bị khiển trách và cất chức vì tham nhũng trong việc mua bán
đất.
Cuộc Đối Thọai Nhân Quyền Hằng Năm của chúng ta đã tạo một thông mạch quan
trọng để nêu những quan tâm của chúng ta về vấn đề nhân quyền với nhà cầm
quyền Việt Nam. Chúng ta đã tổ chức cuộc Đối Thọai lần thứ hai sau khi tái
tục vào Tháng Tư, 2007 và lần thứ ba dự định tại Hà Nội vào Tháng Năm. Đây
là cuộc đối thọai thẳng thắn để chúng ta có thể đưa ra mọi quan tâm một
cách không khoan nhượng (không nương tay). Nhà cầm quyền Việt Nam trân
trọng điều này nhưng cải tiến rất ít. Họ phải làm nhiều hơn nữa. Chúng ta
đã nhấn mạnh rằng cuộc Đối Thọai phải tập trung vào hành động cụ thể của
nhà cầm quyền để cải thiện nhân quyền và phải có kết quả rõ ràng.
Điều mà chúng ta muốn nhắn gửi tới nhà cầm quyền Việt Nam là Hoa Kỳ quan
tâm tới vấn đề này không phải để làm mất ổn định chính quyền của họ mà vì
chúng ta tôn trọng những giá trị phổ quát về nhân quyền và nhân phẩm con
người. Chúng ta cũng nói rõ cho nhà cầm quyền Việt Nam biết cải tiến nhân
quyền phục vụ quyền lợi của họ và làm cho đất nước mạnh hơn. Đây là những
bước mà chúng ta muốn Việt Nam phải làm ngay, chẳng hạn như chấm dứt việc
xử dụng những điều khỏan rất mơ hồ “vi phạm anh ninh quốc gia” như Điều 88
của Bộ Hình Luật nhằm đặt ra ngòai vòng pháp luật “các hành động tuyên
truyền chống lại nhà nước”, và thả ngay tất cả tù chính trị hiện đang bị
giam giữ.
Vấn Đề Tự Do Tôn Giáo:
Tương phản với những tiến bộ chậm trễ trong lãnh vực tự do về mặt chính
trị, quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam đang mở rộng một cách đáng kể. Từ
2004 tới 2006, Bộ Ngọai Giao đã liệt Việt Nam vào danh sách “Các Quốc Gia
Cần Phải Theo Dõi” (CPC- Country of Particular Concern) vì những vi phạm
tôn giáo ở đây. Trong thời gian này, nhiều cộng đồng tôn giáo bị sách
nhiều, buộc phải giải thể và đất nước ghi nhận có 45 tù nhân tôn giáo. Nhà
cầm quyền chính thức hỗ trợ cho một chính sách hà khắc, đặc biệt tại các
vùng gọi là “nhạy cảm”. Vào Tháng 11, 2006 Việt Nam đã nói lên vấn nạn này
và đây là sự vi phạm nghiêm trọng quyền tự do tôn giáo quy định trong Đạo
Luật Tự Do Tôn Giáo Thế Giới 1998.
Nhà cầm quyền Việt Nam dứt khóat thay đổi nhiều mặt trong chính sách trứơc
đây đã hạn chế tự do tôn giáo và đưa ra đạo luật mới về tôn giáo trong đó
cấm cưỡng bách giải thể, tôn trọng tự do thờ phượng của cá nhân và cho
phép đăng bộ (đăng ký) hằng ngàn Giáo Đòan Protestant. Nhà cầm quyền đã
thả những người mà Hoa Kỳ coi họ là những tù nhân cần quan tâm, hòan tòan
vì tín ngưỡng. Họ chấp nhận mọi tin tức hoặc nghi ngờ liên quan đến việc
thi hành các luật lệ này. Chúng ta đã theo dõi việc thi hành việc mở rộng
quyền tự do tôn giáo một cách cẩn trọng- và được phép tiếp cận để làm công
việc theo dõi. Chúng ta cũng phác giác một vài trường hợp trong đó nhà cầm
quyền địa phương đã không tuân thủ luật mới. Khi chuyện đó xảy ra, chúng
ta báo cho chính quyền trung ương biết, hoặc theo dõi nỗ lực của các nhóm
đấu tranh cho tự do tôn giáo để bảo đảm quy dịnh mới được thi hành.
Trong thời gian ở Hà Nội, tôi đã gặp gỡ các giới chức của Giáo Hội Thiên
Chúa Giáo và Giáo Hội Truyền Giáo Phúc Âm (Miền Bắc), họ đều xác nhận đã
có nhiều cải tiến đáng kể, tuy nhiên họ quan ngại về những vụ tranh chấp
đất đai, sự chậm chạp trong tiến trình đăng bộ. Vào Tháng 2, đông đảo giáo
dân Hà Nội đã tụ họp cầu nguyện đòi hỏi nhà cầm quyền trả lại Tòa Khâm Sứ.
Trước khi cuộc va chạm lên tới cực điểm, Tòa Giám Mục Hà Nội và nhà cầm
quyền đã đồng ý giải quyết bằng con đường thương thảo. Các nhà lãnh đạo mà
tôi gặp gỡ đã yêu cầu nhà cầm quyền cho phép giáo hội được quyền rộng rãi
hơn trong các lãnh vực từ thiện và dịch vụ xã hội- như giúp đỡ người
nghèo, giáo dục, y tế và cứu trợ thiên tai.
Kể từ khi danh sách Các Quốc Gia Cần Phải Theo Dõi (CPC) được tháo gỡ, nhà
cầm quyền Việt Nam đã ban hành bảy cấp đăng bộ cho các giáo đòan, đã tổ
chức 3000 khóa huấn luyện và 10,000 khóa hội thảo cho các viên chức tòan
quốc hiểu rõ việc thi hành luật lệ mới về tôn giáo. Những mối liên hệ với
Vatican cũng đã cải thiện. Cuộc gặp gỡ giữa Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng và
Giáo Hòang Benedict XVI đã đưa tới việc thành lập Nhóm Công Tác Chung vào
Tháng 10 năm ngóai để tiến hành việc thiết lập quan hệ ngọai giao.
Việt Nam có thể và cần phải làm nhiều hơn nữa để tiến tới tự do tôn giáo.
Chúng ta mong nhà cầm quyền Việt Nam thúc đẩy nhanh tiến trình đăng bộ cho
các giáo đòan và tăng cường huấn luyện cho các giới chức địa phương về
luật lệ mới. Tuy nhiên Việt Nam không phải là nước vi phạm tự do tôn giáo
nghiêm trọng. Những nhà lãnh đạo của nhiều tôn tôn giáo chính trong nước
xác nhận điều này. Điều quan trọng là chúng ta tiếp tục theo dõi tình
hình. Và điều quan trọng nữa là chúng ta mong nhận thấy những tiến bộ và
khích lệ những điều tốt nên tiếp tục.
Vấn Đề Nhận Con Nuôi ( Chúng tôi không dịch vì thấy không quan trọng)
Vấn Đề Giáo Dục:
Một dấu hiệu nữa cho thấy mối liên hệ song phưong gia tăng là những liên
hệ về giáo dục của chúng ta với Việt Nam đã mở rộng nhanh chóng. Các nhà
lãnh đạo trẻ Việt Nam rất ưa thích học hỏi về xã hội và những giá trị của
Hoa Kỳ; trợ giúp để họ có dịp chia xẻ những gì chúng ta đã trải qua là
cuộc đầu tư dài hạn và tối cần thiết của chúng ta. Học bổng Fulbright cho
Việt Nam là một trong chương trình lớn nhất cho Việt Nam ở Á Châu. Chúng
ta đang tiến hành để mở rộng hơn nữa với sự giúp đỡ của các công ty.
Chương Trình Huấn Luyện Kinh Tế Của Học Bổng Fulbright Liên Kết Với Đại
Học Havard (Harvard –affiliated Fulbright Economics Training Program) tại
Thành Phố HCM thành công rất lớn, đã cung cấp cho hằng ngàn giới chức
trung cấp Việt Nam những hiểu biết cần thiết về chính sách đối với công
chúng để giữ đất nước đi vào đường hướng kinh tế thị trường. Hội Giáo Dục
Việt Nam (Vietnam Education Foundation) đang giúp các sinh viên Việt Nam
về khoa học và kỹ thuật tại các đại học tại Hoa Kỳ. Những giới chức lãnh
đạo cao cấp của Việt Nam mong muốn Peace Corp đến Việt Nam, và Peace Corp
cũng đã thảo luận với nhà cầm quyền Việt Nam về khả năng thiết lập chương
trình cho một quốc gia. Chúng ta mong những cuộc thảo luận như vậy được
tiếp diễn.
Di Sản Chiến Tranh:
Sau hết, điều cần ghi nhận rằng chúng ta tiếp tục làm việc chặt chẽ với
Việt Nam trong những vấn đề liên quan đến di sản của chiến tranh. Việc tìm
kiếm đầy đủ các quân nhân Hoa Kỳ mất tích tại Việt Nam vẫn là vẫn là một
thành tố quan trọng của mối liên hệ song phương. Từ năm 1973 chúng ta đã
có thể hồi hương và ghi nhận 883 hài cốt của lính Mỹ, 627 quân nhân mất
tích ở Việt Nam. Chúng ta tiếp tục nhận được sự hợp tác tốt đẹp từ nhà cầm
quyền Việt Nam trong việc kiểm kê số mất tích, nhưng chúng ta đòi hỏi thêm
về hồ sơ liên quan đến lực lượng của họ ở Lào và Cambodia là nơi mà nhìêu
trường hợp chưa có giải đáp. Cuối năm nay, chúng ta sẽ họp với các giới
chức Việt Nam để đánh giá 20 năm hợp tác trong lãnh vực này và tìm ra
phương thức tìm kiếm tốt hơn.
Hoa Kỳ là quốc gia viện trợ nhân đạo nhiều nhất cho Việt Nam qua chương
trình mine-action program, cung cấp 40 triệu từ năm 1993. Ngòai ra, chúng
ta đã cung cấp 43 triệu trợ cấp năm 1989 qua Ngân Khỏan Leahy War Victims
Fund để giúp cho tất cả người tàn phế tại Việt Nam. Sự trợ giúp từ Quốc
Hội đã giúp thảo gỡ một vấn đề rất tế nhị: đó là vấn đề thuốc khai quang
nhiễm chất dioxin. Từ năm 2002, chúng ta đã cung cấp 2 triệu để Việt Nam
có khả năng giải quyết những môi trường bị nhiễm chất dioxin, và hiện nay
chúng ta dự định một chương trình cung cấp 3 triệu do ngân khỏan riêng của
Quốc Hội để làm sạch môi trường và trị liệu. Sự can dự của Hoa Kỳ đã thúc
đẩy thêm những nguồn trợ giúp khác như Ford Foundation, UNDP và Czech
Republic cùng nhau hợp tác để cùng nói lên quan tâm về tác dụng của chất
dioxin. Trong khi Hoa Kỳ và Việt Nam có thể có điểm bất đồng trên vấn đề
tế nhị này, song chúng ta đã đạt tới thỏa thuận với Việt Nam là giúp đỡ
cho tất cả những người tàn phế bất kể đó là ai, và trình bày vấn đề trong
tinh thần hợp tác, không cường điệu.
Kết Luận:
Thưa bà chủ tịch, trước khi dứt lời, tôi muốn nhấn mạnh đến vai trò trọng
yếu của Quốc Hội trong việc giúp đỡ đẩy nhanh tiến trình bang giao giữa
hai nước trong những năm vừa qua.Với sự trợ giúp của Quốc Hội, chúng ta
tái lập bang giao với Việt Nam và biến họ thành đối tác thương mại bình
thường và thừơng trực. Khi mối liên hệ với Việt Nam ngày càng cải tiến,
Quốc Hội cũng đã cũng đã tăng cường nỗ lực để mở rộng sự can dự này và
cũng bảo đảm rằng nhân quyền và tự do tôn giáo vẫn là những ưu tiên hàng
đầu trong mối quan hệ song phương.
Mười ba năm qua, mối liên hệ của chúng ta với Việt Nam đã chuyển hóa từ
đối đầu sang hợp tác. Đất nước này đã thay đổi lớn lao trong thời gian
qua, và đời sống của đại đa số nhân dân đã cải tiến có thể thấy rõ. Những
khó khăn vẫn còn tồn tại, đặc biệt trong lãnh vực nhân quyền và dân chủ,
và chúng ta phải thẳng thắn nói ra điều này. Vì quyền lợi của đất nước Hoa
Kỳ, chúng ta tiếp tục cùng với họ như một người hợp tác để chuyển hóa Việt
Nam, và khi cần thiết vẫn có những chỉ trích xây dựng.
Xin cám ơn quý vị đã cho tôi cơ hội phát biểu ngày hôm nay. Tôi sãn sàng
chờ đón những câu hỏi từ quý vị.
Tài liệu: Bộ Ngọai Giao Hoa Kỳ (Website)
Đào Văn Bình chuyển ngữ.
|