Các phiên tòa nhân dân mấy ngày trước đã chấm dứt. Dân chúng hiện diện khá đông
tại các phiên tòa ở Tiểu chủng viện, ở Gia Hội bên kia cầu và ở trong thành. Tòa
án ở Tiểu chủng viện do Hoàng Phủ Ngọc Tường chủ trì. Anh này tốt nghiệp đại học
Huế và là cựu lãnh tụ sinh viên trong Ủy Ban Phật Giáo chống chính quyền trước
đây. Cầm đầu ở Gia Hội là Nguyễn Ðắc Xuân, trước kia là một liên lạc viên cộng
sản nay đột nhiên lại xuất hiện. Tòa trong thành do hai sinh viên Nguyễn Ðọc và
Nguyễn Thị Ðoan điều khiển. Các phiên tòa vang lên những lời đe dọa với khẩu
hiệu tuyên truyền, kết tội, qui chụp. Hầu hết những người bị lôi ra tòa chẳng
biết lý do mình bị bắt. Nhưng tất cả đều bị kết tội, một số bị tử hình tức khắc.
Sau hai ngày phiên tòa kết thúc, nhường chỗ cho những công tác khủng bố dân
chúng khác. Một người trộm mở nghe đài (radio) bị bắn giữa thanh thiên bạch nhật
để làm gương. Một anh sinh viên không tới dự lớp học tập cũng bị bắn công khai.
Nguyễn Ðọc bắn nhiều người trong đó có người bạn thân đồng lớp là Mu Ty, chỉ vì
bạn không chịu hợp tác với y. Bước vào ngày thứ hai bắt đầu kiểm soát lương
thực, thực phẩm.
Ngày thứ bốn, vì không tuân hành lệnh cách mạng, một gia đình bị xử. Người chủ
gia đình bị bắn tức khắc. Dưới áp lực khủng bố gia tăng nhiều người bỏ trốn,
nhưng ít kẻ thoát. Vùng Gia Hội có nhiều người thoát hơn nhờ ban đêm chèo bè qua
sông sang làng Ðập Ðá. Thường bị bắn theo nhưng cố chèo.
Những người nằm vùng xuất đầu lộ diện, ra tay truy lùng nạn nhân. Bộ đội Bắc
Việt và quân chính quy Mặt Trận lo chuyện quân sự và chiến lược. Nằm vùng địa
phương lo việc chính trị, hành chính, bình định, tuyên truyền, và tiêu diệt kẻ
thù. Ðám này bắt và giết người bất kể, nhiều khi chỉ vì hiềm thù cá nhân. Cán bộ
miền Bắc có mặt ở tòa án nhân dân xem ra ít nắm vững chuyện chính trị và đóng
vai trò ít quan trọng trong các bản án. Ðịa phương quyết định mọi chuyện. Trước
khi lên danh sách, thường đám nằm vùng đã quyết định bắt ai rồi. Chỉ còn việc ra
lệnh thanh toán những ai họ nhắm nữa mà thôi. Có lẽ họ lý luận rằng, thà giết
lầm hơn bỏ sót, vì bỏ sót thì sau này mình sẽ bị nhận diện. Một cách hệ thống,
công chức, quân nhân, sinh viên có tinh thần quốc gia, có khả năng lãnh đạo và
có thể gây trở ngại cho cách mạng, chính trị gia đối lập, tất thảy đều được đoái
hoài. Danh sách bất tận.
Dân chúng tập trung ở nhà thờ chính tòa được lệnh vào bên trong, không ai được
đứng bên ngoài. Phụ nữ và trẻ con được lệnh ngồi xuống. Ðàn ông và thiếu niên từ
15 tuổi trở lên đứng. Ở bệnh viện, trò tương tự cũng đã diễn ra. Dân quanh vùng,
đặc biệt là vùng quanh căn cứ Mỹ, được lệnh tập trung vào bệnh viện vì cộng sản
sợ giao tranh có thể xảy ra ở đó. Dân lúc này còn sợ súng máy và hỏa tiễn trực
thăng hơn quân chiếm đóng nên ngoan ngoãn làm theo lệnh. Sau ba ngày, đàn bà con
nít được lệnh ngồi, đàn ông đứng dậy để hai tên nằm vùng nhận diện, trước mặt
hai cán bộ miền Bắc và hai bộ đội Mặt Trận. Hai người nằm vùng này mới được xổ
tù khi Việt cộng chiếm thành phố. Cả hai đều là thành viên kỳ cựu của Mặt Trận.
Một số người, trẻ có già có, được cấp thẻ và dẫn về nhà thờ chính tòa.
Bên trong nhà thờ đàn ông và thiếu niên được lệnh sắp thành hàng rồi bước ra
ngoài với cán bộ hộ tống. Từ nhà thờ họ băng qua các đường Phủ Cam lên Chùa Từ
Ðàm. Bị giữ ở đấy một ngày rồi lại tiếp tục đi về phía Nam, hướng Nam Giao. Ðàn
bà trẻ con nhao lên nhưng được trấn an rằng cha, chồng, con họ phải ra phục dịch
bên ngoài thành. Một số bà đi theo xa xa, nhưng rồi bị chặn lại. Trong số người
ra đi có anh lính trẻ cộng hòa và Lương (nhân vật kể lại câu chuyện này) Ngày kế
tiếp, cuộc hành trình kéo dài suốt chiều tới tối, thoạt tiên rời Từ Ðàm đi về
hướng Nam rồi bẻ hướng Ðông Nam. Sáu cây số đường đi mà Lương nghĩ là một cuộc
trường chinh. Không ai nói với ai. Chỉ một lần yên lặng bị cắt đứt bởi một câu
hỏi của ai đó "Ta đi mô đây". Có tiếng phụ họa "Lên núi hay tới chỗ chết?".
Bộ đội Mặt Trận nói là họ được đưa đi học tập. Không ai biết mình đi đâu nhưng
tự thâm tâm nhiều người tin rằng có lẽ đời mình sắp kết thúc. Ông già đi bên
cạnh Lương bổng ngã quỵ. Cho tới lúc đó anh không biết có ông già đi bên mình.
"Bắt gió cho ông ta " tiếng ai đó vang lên... Lương ôm lấy ông cho tới khi người
canh gác tới.
Mắt ông già hé mở trong chiều xẩm tối. Tiếng nói lạc giọng thều thào. "Xin để
tui đi, để tui ở lại đây", ông van xin, bàn tay xương xẩu níu lấy cánh tay người
gác. "Tui không đi xa hơn được nữa".
"Ðứng dậy ".
Ông già gượng dậy, cố thẳng người thêm được vài bước rồi lại ngã. Người gác đoàn
lúc này hết kiên nhẫn, đạp ông ra lề đường rồi bỏ đi. Vài phút sau, một phát
súng xé không khí cùng với một tiếng kêu yếu ớt vang lên. Làm thế để chắc ăn,
không ai chứng kiến. Xác ông được dập vào một hố gần đó, hai tù nhân được lệnh
lấp đất. Một tháng sau xác ông được đồng bào khám phá.
Vô vọng, đoàn người bước đi càng lúc càng chậm, câm lặng uất nén. Người gác càng
hối thúc. Rồi có tiếng hô "Dừng lại ". Lương thấy đám người phía trước được lệnh
bỏ túi xách xuống và ngồi xuống. Họ đã tới đích. Ðám canh gác phía sau miệng hét
thúc kẻ này đi nhanh, chân đá vào sườn kẻ khác... Sau này, Lương nhớ lại mình đã
đi qua thôn Tu Tay. Theo anh, chừng 18 người đã bị kêu lên phía trước và bị quân
Mặt Trận tố có tội ác với nhân dân. Các nạn nhân bị lôi đi ngay. Chả ai biết gì
về số phận họ vì chẳng bao giờ gặp lại họ nữa. Những người khác được lệnh đi về
phía lăng Ðồng Khánh.
Sau một giờ đi họ lại được lệnh dừng, chia thành hai nhóm nhỏ và bắt đầu được
lệnh đào hầm rãnh. Họ đào mồ cho lớp người tới sau, chứ chính họ thì chỉ vài
mạng phải nằm ở đây mà thôi. Như một ác mộng kinh hoàng thăm viếng địa cầu,
nhưng ác mộng không do quỷ ma nào cả mà do chính con người tạo ra.
Thoạt tiên, Lương nghĩ chắc mình sẽ không qua khỏi. Dù vậy, anh và người lính
trẻ vẫn cố tìm cách thoát thân, trong một hoàn cảnh có thể nói là tuyệt vọng.
Hai người thất thần nhìn nhau, mắt mở lớn. Chung quanh Lương, đám người đói,
lạnh, có kẻ đau, không ai dám quay về nhìn thành phố thân yêu đổ nát đang chìm
trong bóng tối sau lưng họ. Họ đào đã hai, ba tiếng, ai nấy im lặng gặm nhấm suy
nghĩ của mình. Hố đào là để trú ẩn và làm mương dẫn nước, người ta nói thế. Một
tiếng nổ kèm với tiếng la vang lên. Thần chết vây bủa không gian. Tại sao mình ở
đây? Ða số họ là công giáo, chả ai quan tâm tới chính trị, một số do hoàn cảnh
lịch sử phải bước vào lính như bao nhiêu thanh niên Việt Nam và trên khắp thế
giới đến tuổi khác.
Sau khi đào xong một hố rãnh, đám đông được lệnh đi tới một đụn cát để nghỉ đêm.
Vài người bị dẫn đi. Một số la thét lên vì sợ. Lương thấy người bạn ở cùng phố
mà anh quen từ mấy năm nay bật khóc nức nở. Một người hoảng lên chạy quẩn để rồi
bị bắt giữ lại. Lương hoảng hốt. Chân anh như điện giật. Anh nghĩ phải liều
ngay. Chung quanh cán bộ gác đầy dẫy, nhưng nếu lao vào được bóng tối thì có cơ
thoát. Ác mộng tiếp tục. Người la. Kẻ bị đánh. Người rú lên cười kinh hoàng.
Lương ở trong một đám khá đông đang bước đi. Ðám người khập khễnh lê lết xuyên
qua một đám cây rậm đi xuống đụn cát phía Nam. Khi họ xuống đồi, Lương lách
người lao vào bóng tối. Một viên đạn rít bên tai. Anh phóng qua đám rừng, tai
vẫn nghe tiếng đạn và tiếng la hét. Chỉ vài phút anh tới một con suối và chạy
theo dòng nước hướng về phía Ðông. Anh đi suốt đêm, thỉnh thoảng bị khuất động
bởi trái sáng thả từ máy bay và tiếng đại bác. Sáng ra thấy mình băng qua một
con đường sắt. Từ đó tiếp tục đi tới quốc lộ, lòng mong ngóng sớm thoát được
vùng tử địa. Xế chiều anh tới con đường phía Nam cách Phú Bài mấy dặm. Mải tới
ngày 16 tháng 2 Lương mới về lại được thành và kể cho chị Kim những gì đã xảy
ra...
Người ta đoán rằng đám nạn nhân từ Phú Cam tiếp tục đi nhiều ngày nữa về hướng
Nam, xuyên qua một vùng cây cối khó đi. Mải tới trung tuần tháng 9.69 người ta
mới tìm thấy xác họ trong một con suối nhỏ, khe Ðá Mài, con suối chảy ra khe Ðại
đổ vào sông Hương... Trong số 428 bộ cốt tìm được ở đó, rất ít được nhận diện.
Vì không tìm thấy ở đâu khác, gia đình họ Nguyễn (thân nhân người lính trẻ) tin
rằng con mình đã chấm dứt cuộc đời nơi khe suối này...
Mồ Tập Thể
Mồ tập thể được khám phá đầu tiên ở trường trung học quận Gia Hội, nằm bên cạnh
khu dân cư. Sở dĩ cư dân gần đó biết được là vì họ nghe tiếng súng và biết ở đó
có mở tòa án nhân dân. Một số người sau khi tham dự phiên tòa đầu tiên đã liều
trốn và may mắn thoát. Một số khác nhờ bơi qua sông. Trước ngôi trường có tất cả
14 hố gồm 101 tử thi. Sau ba ngày tìm kiếm, người ta khám phá thêm một số hố rải
rác trước, sau và bên hông trường, nâng tổng số tử thi lên 203, gồm xác thanh
niên, người già và phụ nữ.
Trong số xác trẻ có 18 sinh viên. Một số trong bọn họ là những sinh viên đã bỏ
vô bưng theo Mặt Trận sau vụ đấu tranh chống chính quyền, nay trở về bắt các
sinh viên khác theo họ. Khi Mặt Trận chuẩn bị rút, các sinh viên được phép chọn
hoặc vô bưng hoặc ở lại thành. Kẻ chọn ở lại bị giết và chôn tại trường. Những
sinh viên khác của Gia Hội không theo Mặt Trận cũng chịu chung số phận. Có hố
vừa chôn được hai hoặc ba tuần; số còn lại rất mới. Những xác đầu tiên được lính
Thủy Quân Lục Chiến Cộng Hòa khám phá ngày 26.02.1968.
Trong số nạn nhân có cô Hoàng Thị Tam Tuy (các tên riêng và địa danh nào không
đoán được sẽ ghi lại đúng như tác giả đã ghi - Người dịch), 26 tuổi, rất xinh,
bán hàng ở chợ, nhà tại đường Tô Hiến Thành, Gia Hội. Bị quân Mặt Trận, theo lời
kể của chị/em cô, vào nhà bắt đi đưa vào trường điều tra ngày 22 tháng 2, rồi
chẳng thấy trở về. Xác cô chân tay bị trói, miệng nhét đầy giẻ; mình mẩy không
thấy một vết thương nào. Xác cô nằm chung với bốn nạn nhân khác, mà hai trong số
đó có bà con với chị/em dâu cô. Trong số các nạn nhân khác có bà góa Dương Thi
Co, 55 tuổi, nghề bán guốc, 4 con. Bị bắt tại nhà ngày 22.02, đưa vào trường Gia
Hội và bắn chết. Xác bà được các con nhận diện ngày 26.02. Người thứ ba là Lê
Văn Thắng, 21 tuổi sinh viên ở Gia Hội. Anh bị bắt đi tham dự lớp huấn luyện
ngày 14.02. Xác được gia đình phát hiện và nhận diện ngày 16.03, chung hố với
hai nạn nhân khác trong khuôn viên trường.
Người thứ tư là Trần Ðình Trọng, sinh viên kỹ thuật và mới lập gia đình. Bị bắt
ngày 06.02, tìm thấy xác ngày 26.02. Người thứ năm Nguyễn Văn Dong, cảnh sát 42
tuổi, bị bắt ngày 17.02 ở nhà một người quen và bị chôn sống, tay trói tại
trường Gia Hội. Tìm thấy xác ngày 26.02. Người thứ sáu là Lê Văn Phú, 47 tuổi,
cảnh sát. Bị bắt tại gia ngày 08.02. Vợ con van xin Mặt Trận cho phép chồng ở
lại nhà, nhưng tối hôm đó bị hành quyết, bị bắn vào đầu, xác tìm thấy ngày
26.02, ở khuôn viên trường. Người thứ bảy, bà Nguyễn Thi Lao, buôn thúng bán
bưng, 48 tuổi. Bị bắt trên đường lộ. Xác tìm thấy ở trường học, tay bị trói,
miệng nhét đầy giẻ; mình mẩy không bị một vết thương nào. Có lẽ bà bị chôn sống.
Những xác khác tìm thấy gồm một đại úy cộng hòa, hai trung úy, ba trung sĩ và
mấy viên chức hành chánh. Bốn xác người của Mặt Trận.
Vùng mồ lớn thứ hai được khám phá gồm 12 hố với 43 tử thi ở Chùa Theravada,
thường gọi là Tăng Quang Tự.
Vùng thứ ba tại Bãi Dâu với 3 hố, 26 xác. Trong số nạn nhân ở Chùa có ông Phan
Ban Soan, 60 tuổi, sinh tại Phú Vang, Thừa Thiên, nhà ở đường Tô Hiến Thành, có
gia đình, 5 con. Ông Soan làm nghề thợ may, trước có tham gia vụ Phật giáo chống
tổng thống Diệm. Năm 1961 bị bắt vì chống chính quyền, được thả năm 1967. Bị
Việt cộng bắt đi tối 12.02 trên đường Chi Lăng, Gia Hội. Cộng sản phân công ông
chôn xác chết và phân phối gạo. Xác ông tay bị trói, bị bắn xuyên đầu, dập cùng
hố với 7 người khác.
Một người khác tìm thấy ở Chùa là ông Ðặng Cơ, 46 tuổi, nghề thầu khoán, bị bắt
tại gia ngày 06.02, tìm thấy xác ngày 26.02. Một người khác nữa là ông Ngô
Thông, 66 tuổi, nhân viên hành chánh hồi hưu, bị bắt ngày 08.02, xác dập chung
với 10 người khác. Một số tử thi có vết thương, một số tay bị trói giật cánh khỉ
bằng dây thép gai, và một số miệng bị nhét giẻ.
Lần đầu tiên nói chuyện với đồng bào trong vùng tôi tưởng chỉ có 16 xác ở Chùa
và 3 xác khác ở Bãi Dâu. Nhưng bên hông và sau Bãi Dâu có nhiều hố chôn. Tất cả
ở đây chết vì bị trả thù. Một vài người là thành viên Mặt Trận nhưng bị giết vì
muốn ở lại thành. Họ đều là dân Gia Hội. Bốn tháng sau, tháng 08.68, tôi trở lại
đây để tìm hiểu thêm uẩn khúc của những cái chết. Thân nhân các nạn nhân lẫn dân
địa phương đều xác nhận những điểm trên.
Tiết lộ về "mồ chôn tập thể" đầu tiên của chính quyền miền Nam là vào ngày
28.02.68, khi phát ngôn nhân chính phủ cho biết về một hầm "ghê gớm ở Cồn Hến
gồm 100 xác công chức và quân nhân bị bắt khoảng đầu tháng". Cũng theo phát ngôn
viên, "các nạn nhân bị Việt cộng giết, thân xác họ không được lành lặn". Cồn Hến
nằm giữa sông Hương. Lúc đầu Mặt Trận không màng chiếm Cồn. Nhưng sau nó trở
thành một vị trí chiến lược cho việc tiến quân và rút quân từ Gia Hội ra vùng
cát Ðông Nam, vùng họ chiếm từ nhiều năm nay. Chính quyền xác nhận có 101 xác
trong hầm. Theo đồng bào chạy thoát từ Cồn thì trong số nạn nhân có nhiều người
nam mang quân phục, một vài người bận đồ kaki của Mặt Trận, một số khác bận áo
dòng ngắn, một vài người mang quân phục lính cộng hòa và một vài người bận
thường phục. Tôi hỏi nhân viên chính quyền địa phương về tên tuổi các nạn nhân
thì được trả lời là các tử thi không được nhận diện đầy đủ; họ xác nhận là không
thể nào quả quyết tất cả đều bị hành quyết; một vài nạn nhân có thể đã chết
trong khi giao tranh và vài xác khác, cũng theo họ, là của quân thù.
Vùng chôn thật sự thứ tư nằm sau Tiểu chủng viện, nơi dựng tòa án nhân dân. Hai
hầm chứa xác ba người Việt làm việc cho tòa đại sứ Hoa Kỳ, hai xác người Mỹ ông
Miller và ông Gompertz, nhân viên USOM, và xác một giáo sư trung học người Pháp
bị giết vì lầm là người Mỹ. Tất cả đều bị trói tay. Xác tìm thấy và liệm ngày
09.02. Xác hai người Mỹ và người Pháp được đưa về Ðà Nẵng.
Quận Tả Ngạn, vùng thứ năm, do một quân nhân người Úc khám phá ngày 10.03.68. Ba
hầm rãnh với 21 tử thi, tất cả đều nam giới, tay bị trói, đạn bắn xuyên đầu và
cổ. Một hầm khác, vùng thứ sáu, nằm cách Huế 5 dặm về hướng Ðông, được khám phá
ngày 14.03.68 do một cố vấn quân sự Mỹ cùng toán lính Việt đi kèm. Hai lăm xác,
tất cả đều bị bắn vào đầu, tay trói giật cánh khủyu. Nhờ một cánh tay của một
nạn nhân nhôi ra khỏi mặt đất mà hầm được khám phá.
Phía Nam Huế qua hoàng thành ở Nam Giao là nơi mộ phần của vua Tự Ðức và Ðồng
Khánh. Nơi đây là vùng chôn tập thể thứ bảy. Ðây đó trên dưới hai chục hầm, có
cái giữa đất bằng, có cái dưới bụi cây, có cái bên bờ suối. Bên cạnh hầm lớn, có
những hố nhỏ chứa một, hai hoặc ba xác. Hầm đầu tiên được khai quật ngày
19.03.68, nhưng mãi cho tới tháng 6.69 vẫn còn xác được tiếp tục phát hiện. Ban
đầu còn dễ nhận dạng, vài xác mang quân phục, ngoài ra còn lại thường phục. Ðặc
biệt ở đây không có xác phụ nữ và trẻ con. Càng về sau việc nhận diện trở nên
khó khăn. Dù vậy, cuối hè 1969, người ta cũng nhận diện được xác bố của ông thôn
trưởng thôn Than Duong. Vì con trai vắng mặt nên cụ già bị bắt thay con. Về sau
con đi tìm cha mãi không gặp. Xác cha, đạn xuyên đầu và ót, được tìm thấy tháng
6.69.
Cũng trên đường hướng Nam đó là Tu viện Thiên An, nơi xảy ra trận chiến ác liệt
trong thời gian cộng sản tấn công. Khi buộc phải triệt thoái, cánh quân chiếm
đóng phía Nam thành phố rút lên núi và chiếm giữ ngôi Tu viện xây cách đây 26
năm, cách Huế 6 cây số hướng Nam, vào ngày 21.02. Lúc đó Tu viện đang là nơi
lánh nạn cho hơn 3000 người. Mặc cho các cha dòng van xin, cộng sản đã cho thần
hỏa thiêu rụi tòa nhà chính trong vòng hai ngày. Các tòa nhà bên là chỗ sinh kế
của nhà dòng cũng bị lửa đạn thiêu hủy. Thư viện gồm những pho thư khố và thủ
bút quý thời vua chúa cũng chung số phận.
Cha Dom Romain Guillaume, một trong những linh mục của dòng, bị một lính Việt
cộng bắn vào vai lúc rời khỏi tòa nhà cháy sau khi đã di tản hầu hết dân tỵ nạn.
Một linh mục người Việt bị bắn vào chân. Khi rút khỏi đóng gạch vụn Tu viện ngày
25.02, Cộng quân mang theo trên 200 người, trong đó 2 linh mục người Pháp, cha
Urbain, 52 tuổi, và cha Guy, 48 tuổi và một số tu sĩ linh mục, tập sinh và người
giúp việc. Những người này bị lọc bắt trong thời gian cộng quân chiếm Nhà dòng
và được dẫn đi về hướng Nam. Ða số bọn họ kết liễu cuộc đời gần chỗ lăng các
vua. Tới tháng 6.69, tổng cộng 203 xác được khai quật. Trong số nạn nhân ở lăng
Tự Ðức có Ðoan Xuan Tong, 20 tuổi học sinh trung học, nhà ở làng Nguyệt Biểu,
quận Hương Thủy. Em biến mất khỏi nhà ngày 06.02.68. Xác em được thân nhân tìm
thấy bên cạnh lăng vua ngày 19.03.68, chôn chung với năm người khác cùng làng.
Tại lăng Ðồng Khánh có xác linh mục Urbain lấp cùng một hố với 10 người khác.
Một người Việt khai quật xác cho tôi hay tay linh mục bị trói, mình không có một
vết thương, chứng tỏ có lẽ bị chôn sống. Xác ông liệm ngày 23.03.68 và sau đó
được một linh mục đồng dòng nhận diện. Vị linh mục này không thể xác nhận được
là tay cha Urbain có bị trói hay không. Sự kiện không có xác đàn bà và con trẻ
trong các hầm chứng tỏ các nạn nhân đã bị hành huyết dã man chứ không phải chết
trong lúc giao chiến. Nếu bị pháo kích hoặc oanh tạc thì chắc chắn đã có người
bị thương và sống sót, hoặc có người chết không toàn thây. Và chắc rằng họ không
phải bị chôn tại chỗ, bởi theo phong tục người chết luôn được mang về nhà mình
để hồn họ khỏi phải vất vưởng muôn kiếp. Vì thế nguyên tắc của đối phương là
phải dấu nạn nhân thế nào để không bị khám phá, mà nếu có bị khám phá thì cũng
không nhận diện được là ai.
Ngoài thi hài cha Urbain, thi hài cha Guy dòng Thiên An cũng được tìm thấy trong
một hầm riêng ngày 27.03.68 gần lăng Ðồng Khánh, với vết đạn ở đầu và cổ.
Vùng chôn thứ tám ở cầu An Ninh khám phá ngày 01.03 với 20 xác. Trong số tử thi
có ông Trương Văn Triệu, trung sĩ lính Cộng hòa. Trung sĩ Triệu có vợ và 5 con.
Du kích cộng sản địa phương bắt ông ở trường mẫu giáo Kim Long, nơi ông ẩn trốn.
Bị trói và dẫn đi. Nhờ dân chúng gần đó cho hay Việt cộng có chôn xác người gần
cầu nên vợ ông đã tìm được xác chồng sau đó.
Xác ông Tran Hy, thuộc lực lượng Nhân Dân Tự Vệ, có vợ 4 con, cũng được lấp cùng
hầm với ông Trieu. Ông bị bắt ngày 20.02 khi đang trốn trong nhà một láng giềng.
Tay bị trói cánh khuỷu, người không có vết thương nào.
Vùng chôn thứ chín ở cửa Ðông Ba, nơi xảy ra giao tranh lớn. Ðây chỉ có một hầm
7 người bị bắt tại gia và giết sau đó. Trong đó có ông Ton That Quyen, 42 tuổi.
Có gia đình với 10 người con, bị bắt và dẫn đi hôm 08.02.68. Gia đình tìm được
xác ông ngày 05.05.68.
Ðịa điểm thứ mười là trường tiểu học An Ninh Hạ, một hầm 4 xác, trong đó có cảnh
sát Tran Trieu Tuc, 52 tuổi, có vợ 7 con. Ông bị bắt tại nhà và mang đi ngày
05.02.68. Xác tìm được ngày 17.03.68 ở trường, mang vết thương ở đầu và cổ. Ba
xác còn lại: một sinh viên, một quân nhân và một cảnh sát.
Ðịa điểm thứ mười một là trường Van Chi, một hầm 8 xác. Trong đó có anh Le Van
Loang, thợ máy, 35 tuổi, có vợ 6 con. Theo lời chị Loang, anh bị bắt đi dự lớp
huấn luyện ngày 06.02. Khi bị dẫn đi, chị và các cháu chạy theo van xin nhưng vô
hiệu. Họ ra lệnh mẹ con chị phải quay trở về. Xác anh được những gia đình đi tìm
xác người thân tìm thấy ngày 10.03.68 gần trường. Một vài xác bận quân phục, 4
xác chắc chắn là thường dân, trong đó có một sinh viên.
Ðịa điểm thứ mười hai ở chợ Thông, cách nội thành 2 cây số về hướng Tây. Tìm
được 102 xác. Trong đó có ông Nguyen Ty, 44 tuổi, thợ xây gạch, có vợ 6 con. Bị
bắt ngày 02.02.68 và có lẽ bị giết ở chợ cùng với nhiều nạn nhân khác. Tìm được
xác ngày 01.03, tay bị trói, một viên đạn từ ót bung ra cửa miệng. Nhiều người
khác cũng bị bắn, tay trói. Có nhiều xác đàn bà nhưng không có trẻ con.
Ðịa điểm thứ mười ba là vùng lăng Gia Long, ở Thiện Hàm bên bờ sông Hương, cách
thành phố khoảng 16 cây số hướng Nam và cách ÐànNam Giao cỡ 13 cây số Tây Nam.
Gần 200 xác được tìmthấy dưới các đám cây vàbụi rậm, gồmhọc sinh, sinhviên,nhân
viên hành chính, quân nhân và nhiều phụ nữ. 27 người thuộclàng lân cận. Sau khi
an ninh tạm vãn hồi, các bà đi tìm chồng đã khám phá ra địa điểm này. Lúc đầu,
họ không dám đi quá xa. Nhưng hai ngày sau, 25.03.68, họ đụng vào một miếng đất
mới đào trên triền một trong nhiều thung lũng nhỏ trong vùng. Xác người thân họ
nằm nơi đây, tay bị trói cánh khủy, đạn bắn từ sau cổ xuyên qua miệng. Có nhiều
rãnh hầm nối nhau với nhiều xác. Một số nạn nhân từ nội thành, những người khác
từ các làng lân cận. Một số là sinh viên từ Huế về nhà ăn tết.
Ðịa điểm thứ mười bốn nằm ở giữa Chùa Tăng Quang và Tường Vân, 2,5 cây số Tây
Nam Huế. Ở đó có xác 4 người Ðức, 3 bác sĩ và một bà vợ, tìm thấy ngày 02.04.68.
Ðịa điểm mười lăm ở Ðông Gi, 16 cây số phía đông Huế trên đường ra bờ biển, tìm
thấy ngày 01.04.68. 101 xác, đa số bị trói và miệng nhét đầy giẻ. Tất cả đều nam
giới,trong đó có15 sinh viên, nhiều quân nhân và nhân viên hành chính, già lẫn
trẻ. Một vài xác không thể nhận diện được.
Tới tháng 05.68, tổng cộng có trên 900 xác người bị coi là mất tích đã được tìm
thấy. Dĩ nhiên còn nhiều người chưa được tính... Ðầu năm 1969 nhiều địa điểm
khác được khám phá.
Ðiểm chôn thứ mười sáu: Ðầu tiên ở làng Vinh Thái. Ðịa điểm thứ hai ở làng Phú
Lương. Ðịa điểm thứ ba ở làng Phú Xuân, tất cả thuộc quận Phú Thứ. Tất cả được
tìm thấy trong khoảng từ tháng 01 tới tháng 08.69. Quận này với quận kế bên bị
cộng sản chiếm nhiều năm và nơi đây xảy ra nhiều cuộc không tập kéo dài nhiều
tháng. Mải tới đầu năm 1969 quân Cộng hòa mới tiến vào được vùng này...
Ba làng này cách thị xã Huế chừng 15 cây số về các hướng Ðông và Ðông Nam, cách
bờ biển từ 3 tới 5 cây. Theo các viên chức địa phương trên 800 xác được tìm thấy
trong các vùng trên trong vòng 6 tháng. Có hầm đào sâu, có hầm cạn. Nhiều xác
chôn lâu rồi, quần áo đã mục... Trong số nạn nhân người ta nhận diện được 16 học
sinh trung học, theo học ở Huế nhưng về quê ăn tết. Cả nhân viên hành chính, đàn
ông, đàn bà, trẻ em, già lẫn trẻ. Một số tay bị trói, đa số đều chôn cùng một
hố. Vùng làng Vinh Thái đào được 135 xác; làng Phú Lương 22; và làng Phú Xuân
đợt đầu 230, đợt sau, khám phá vào cuối năm 69, 375 xác. Dù thời gian qua lâu,
nhưng nhờ lượng muối cao của đất vùng này giữ, đa số tử thi hãy còn có thể nhận
diện được. Nhiều nhân viên hành chính và quân nhân, bị bắn ở cổ và đầu. Ða số
nạn nhân thuộc nam giới. Một vài phụ nữ và trẻ em và một vài người mang nhiều
loại vết thương. Có các linh mục, tu sĩ và chủng sinh của các làng lân cận mất
tích từ hơn 20 tháng kể từ biến cố tháng 02.68. Trong số 357 xác có cha Bửu
Ðồng, một cha sở quận Phú Vang và 2 chủng sinh. Cha đồng dấu được trong túi sau
bộ đồ ngủ đen trên người một hộp mắt kính trong đó có ba bức thư tiếng Việt. Một
trong ba lá thư này, có bản chụp trưng bày ở nhà thờ chính tòa Huế, ông viết cho
bổn đạo mình (thư tìm thấy trên thi thể ngày 8.11.69).
Các con cái yêu dấu:
Ðây là bút tích cuối cùng để nhắc cho các con ghi nhớ bài phúc âm thánh Phêrô
trên thuyền bão táp... (3 chữ đọc không ra) đức tin. Lời cầu chúc của Cha ngày
đầu xuân cho mọi công việc Tông đồ của Cha giữa chúng con, nhớ.. (hai chữ đọc
không ra) khi sự sống của Cha sắp kết liễu theo ý chúa.
Hãy mến Mẹ sốt sắng lần hột, tha mọi lỗi lầm của Cha, xin cám ơn Chúa với Cha,
xin Chúa tha tội cho Cha và tận tình thương nhớ cầu nguyện cho Cha được sống
trong tin tưởng, kiên nhẫn, trong khắc khổ để kiến tạo hòa bình của Chúa Kitô và
phục vụ tinh thần Chúa và mọi người trong Mẹ Maria. Xin cầu nguyện cho Cha bình
an sáng suốt và can đảm cùng mọi sự đau khổ tinh thần, thể xác và gởi mạng sống
cho Chúa qua tay Ðức Mẹ.
Hẹn ngày tái ngộ trên nước Trời.
Chúc lành cho chúng con.
(Chữ ký Cha Ðồng)
Ðiểm chôn thứ mười bảy ở làng Thượng Hòa, quận Nam Hòa, bên bờ sông Tả Trạch,
một phụ lưu sông Hương phía Nam lăng Gia Long. 11 xác được tìm thấy giữa các lùm
cây trong tháng 07.69. Chỉ có ba xác nhận diện được là người của làng bên cạnh.
Tất cả đều mang vết thương cổ và đầu, dấu chỉ của sự hành quyết.
Ðiểm thứ mười tám ở Thúy Thạnh, quận Hương Thủy, tìm thấy tháng 04.69, và ở làng
Vinh Hưng, quận Vinh Lộc, tìm thấy tháng 07.69. Cả hai làng nằm trong vùng bị
cộng sản chiếm từ lâu... Trên 70 xác, nhiều xác không còn nhận diện được nữa, đa
số là đàn ông, vài đàn bà và trẻ con. Họ được nhận diện là người của các làng
lân cận và vài người có thể bị chết vì chiến cuộc bởi mình họ mang nhiều vết
thương và xác không toàn vẹn. Các nạn nhân khác bị bắn ở cổ và đầu.
Ðiểm thứ mười chín tìm thấy vào tháng 09.69 ở Khe Ðá Mài, quận Nam Hòa, một con
suối nhỏ chảy vào Khe Ðại, phụ lưu sông Hương. Khe chứa đầy xương người, có
xương đủ bộ, có xương nằm riêng, sọ nằm riêng; tất cả được nước suối mài trắng
tinh. Dân đi cưa gỗ tìm thấy địa điểm này. Nạn nhân có lẽ đã được chôn bên bờ
suối trong mùa mưa và nước suối đã dần soi mòn đất để lộ xác ra, cũng có thể là
nạn nhân bị vất xuống suối, chứng cớ là các mảnh quần áo được tìm thấy dọc bờ
hoặc ngay dưới khe, thì việc chôn lấp nạn nhân có lẽ xảy ra trong các tháng mùa
mưa (tháng hai, ba, tư). Và điều này có nghĩa là nạn nhân đã được dẫn thẳng tới
đây hoặc được mang tới đây sau khi bị bắt một thời gian ngắn. Nếu chôn trong mùa
suối khô, thì sự kiện xảy ra trong khoảng từ tháng 06 tới 10.
Có lẽ để giữ bí mật khi rút lui Việt cộng đã thanh toán vội vàng các nạn nhân
tại đây. Theo luật thông thường, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, kẻ thù thường
chôn cất xác đồng đội đàng hoàng. Tuy nhiên cũng có thể đây là xương và sọ của
lính Mặt Trận và Bắc Việt. Như vậy thì số phận nào cho những người Phú Cam bị
mất tích?
Nghiên cứu các phúc trình quân sự Mỹ thì không thấy có một cuộc không tạc lớn
hoặc của máy bay B 52 nào ở vùng trên, ngoại trừ trận chiến gần Lộc Sơn vào hạ
tuần tháng 04.68, một địa điểm cách xa nơi đó chừng 10 cây số. Vả lại lập luận
mang người bị chết vì bom B 52 băng qua vùng đất gập ghềnh để đưa về chôn ở suối
này quả không vững. Ðường lên núi dễ dàng hơn nhiều. Cũng vậy, nếu kẻ thù bị
thiệt hại nặng ở trận Lộc Sơn và, theo thói quen sẵn có, đã mang xác 500 đồng
đội đi thì hẳn lộ trình phải là hướng núi, gần và dễ di chuyển hơn nhiều, chứ
làm sao mà chọn băng qua cánh rừng dày đặc khó xuyên qua được này.
Trong thời gian cuộc tấn công của cộng sản có xảy ra giao tranh lớn kéo dài từ
Huế qua Bến Ngự, cầu Nam Giao tới gần và trong Nhà dòng Thiên An. Nhưng đã không
có tiếp tục đánh nhau lớn về mạn Nam, khi quân thù chọn đường rút lui lên núi,
hướng trái với Ðá Mài. Khe Ðá Mài nằm cách thành phố 40 cây số về hướng Nam, bên
ngoài vùng lăng tẩm; nơi nầy được coi là vùng không người, chỉ có cộng quân lai
vảng. Khe chứa 500 sọ. Ðịa thế cách trở, cách xa mọi văn minh bởi rừng đồi vách
đá cho thấy người ta không muốn để số xác kia, xác của những người mang từ Huế
ra bị khám phá, mà nếu có khám phá thì cũng không nhận diện được. Nằm lẫn với
xương là các mảnh quần áo thường, không phải kaki hay vải màu xanh bộ đội miền
Bắc hoặc quân phục Mặt Trận. Các sọ vỡ xương trán tất thảy cho thấy bị đánh bởi
một vật gì nặng. Một số sọ khác không thấy vết tích gì ở xương, đây có thể là
nạn nhân chết trong lúc giao tranh. Lần lượt tất cả hài cốt được chuyển về thành
phố, nơi họ ra đi và tống táng trong an bình... Sau khi Ðá Mài được khám phá,
vẫn còn vài trăm người mất tích. Trong số đó có một số sinh viên, điển hình là
các anh Ngô Anh Vũ, Nguyễn Văn Bích. Cả hai bị bắt ở nhà thờ Phủ Cam. Những
người khác, viên chức hành chánh, thành viên chính đảng, thanh niên công giáo,
Phật giáo, tu sinh, giáo chức và quân nhân. Họ bị bắt đi, biệt tăm tin tức.
Bên cạnh các hầm chôn tập thể, còn có các nạn nhân lẻ tẻ, bị giết tức tưởi. Có
khi cả gia đình bị tiêu diệt như gia đình ông Nam Long, thợ buôn, bị bắn cùng vợ
và 5 con tại nhà. Ông Ngô Bá Nhuận bị bắn dã man trước rạp chiếu bóng địa phương
và ông Phan Văn Tường, lao công, bị giết ngoài nhà ông với bốn đứa con...
Elje Vannema
The Vietcong Massacre at Hue. Vintage Press, New York, 1976