Những oan hồn tết Mậu Thân ở Huế
Hoàng Long Hải /Tuệ chương
(Lời bạt của người dịch)
Tết năn Dần, 1974, tôi đi công tác về xã An-Hòa, quân Kiên Lương, tỉnh
Kiên-giang. Xã nầy phần lớn nhà cửa nằm quanh một ngọn núi, tên là núi Trầu. Núi
Trầu cách nhà máy Xi-Măng Hà-Tiên khoảng vài cây số. Thời gian nầy, núi Trầu
đang được nhà máy Xi-Măng Hà-Tiên cử chuyên viên đến nghiên cứu tại chỗ để khai
thác đá vôi tại đây, mở rộng thêm họat động của nhà máy, do Cọng hòa Liên bang
Ðức viện trợ.
Là ngày Tết, nhà nào cũng đốt sáng bàn thờ Chúa, (phần đông theo đạo Thiên
chúa). Họ gốc gác là di dân từ bắc vào khoảng đầu thập niên 1940, theo các
chương trình khai thác kinh tế của bọn thực dân Pháp. Lạ một điều, nhà nào cũng
có giỗ, tuy không làm lớn như người Lương. Hỏi ra mới biết Tết năm Tỵ, 1953, Tây
nhảy dù xuống núi Trầu, lùng từng nhà, tàn sát đàn ông, con trai, những ai không
chạy trốn kịp. Vì Tây đi lùng bất ngờ, không đến bằng đường bộ như đã từng xảy
ra mà lại nhảy dù nên hàng trăm người chết cùng ngày, giỗ cùng ngày. Nói chuyện
với những người là còn nhỏ khi cha anh họ bị Tây bắn năm ấy, nay trên dưới ba
chục tuổi, những người đàn bà góa bụa từ lúc ấy, nay đã năm, sáu chục tuổi, mối
căm tức, giận dữ thì cũng nguôi ngoai, nhưng nỗi u-uất và niềm đau vô tận về
những người chết oan đó vẫn còn trong giọng nói, trong tiếng thở dài khi tôi hỏi
chuyện. Thảm cảnh ấy làm tôi nhớ Tết Mậu Thân ở Huế, năm 1968. Năm đó, tôi chưa
nhập ngủ, còn đi dạy, cũng ở Huế.
Huế ngày nay, suốt trong tháng Giêng, nhà nào cũng có giỗ. Ðáng tội nghiệp hơn
là thân nhân những người bị giết, bị mất tích đâu biết người chết bị giết ở đâu,
ngày giờ nào. Họ đành phải lấy ngày những người ấy bị bắt ra khỏi nhà làm ngày
kỵ cho người quá cố. Người ta chỉ tìm được xác chết của khoảng ba ngàn người,
còn hai ngàn người nữa biệt vô âm tín. Những người tìm được xác đó, cũng không
biết chết vào ngày giờ nào. Tôi đến thăm gia đình một người quen có người bị
giết hồi tết Mậu Thân, nghe kể lại mùa lụt năm 1968, người đi tìm xác thấy giày
dép, áo quần rách trôi theo một giòng khe. Thân nhân nghi ngờ, bèn theo dấu tích
đó mà đi ngược lên, tới một nơi tên là khe Ðá Mài, người ta tìm thấy hàng mấy
trăm bộ xương người chồng chất lên nhau. Người ta không thấy vết đạn nơi những
bộ xương nầy, chỉ thấy sọ bị vở như bị búa hay cuốc đánh vào đầu. Hai bên bờ khe
là vách cao. Trước quang cảnh như thế, người ta đoán biết các nạn nhân bị giết
bằng cách như thế nào, rồi bị đạp xuống từ trên bờ khe cao.
Người chết trận ở Huế cũng nhiều, vì đó là một trận đánh lớn kéo dài 26 ngày,
một bên chủ lực là hai Trung đoàn số 5 và số 6 của Cọng Sản BV, gồm 8 tiểu đoàn,
khoảng 7 ngàn rưởi người, chưa kể bộ đội địa phương, du kích và cán bộ; một bên
là năm đại đội gồm có Ðại đội Alpha, Bravo, Delta, Fox, Charlie, của TQLC/Hoa
Kỳ, Ðại đội Hắc Báo, Tiểu đoàn 2/3 của VNCH, Tiểu đoàn 41 và nổi bật nhất là
Tiểu đoàn 39/BÐQ của đại úy Võ Vàng. Số người tử trận hàng ngàn, kể cả hai bên
là điều không tránh được. Cổ lai chinh chiến địa, kỷ kiến hữu nhân hồi cũng là
điều người ta phải đau xót chấp nhận từ ngàn xưa. Oán trách chăng? Oán trách ai
khi người cầm vũ khí ra đi dù muốn dù không cũng đành phải chấp nhận số phận
nghiệt ngã của mình. Tàn nhẫn hơn nữa là tham vọng của kẻ cầm quân: Nhất tướng
công thành vạn cốt khô. Lịch sử đã cho thấy như thế, và người lính cũng đành
chấp nhận như thế. Linh hồn oan khiên của người chết trận đó có siêu thoát được
chăng? Một hôm, vị sư ở chùa Phổ Chiêu nghe từ trên không tiếng Quan Vân Trường
kêu la thống thiết: Trả đầu cho ta, trả đầu cho ta. Vị sư bước ra sân nhìn lên
trời mà gọi: Vân Trường ở đâu? Câu hỏi chỉ chừng đó, nhưng Vân Trường hiểu ra lẽ
vay trả của đời. Quan Thánh đòi trả đầu cho ông, thế ai trả đầu cho Văn Xú, Mã
Ðằng, và biết bao nhiêu người nữa rơi đầu vì thanh long đao của ông. Cuộc đời là
hư vô, giả tỉ như Vân Trường có lấy lại được đầu chăng nữa thì ông ta có được gì
khi mạng ông đã mất. Cả một cuộc đời xông pha ngang dọc, tăm tiếng lẫy lừng,
hiếu trung toàn vẹn cũng đã mất thì tiếc chi một cái đầu, dù một cái đầu có bộ
râu đẹp được gọi là nhiễm mi, cặp mắt sáng hơn sao mà nay đã khép lại rồi. Vã
lại, lấy đầu người thì nay bị người lấy đầu, đó không phải là lẽ vay trả thường
tình trong cuộc đời nầy hay sao. Dù có chết oai hùng như Mã Viện nói: Da ngựa
bọc thây chứ không chịu chết trên tay đàn bà con trẻ hay cầm súng ra chiến
trường vì chẳng đặng đừng thì trong cuộc đọ súng giữa hai kẻ thù ngoài mặt trận,
bắn chậm thì chết là điều xưa nay đã có, buộc phải làm và dù muốn dù không thì
đó cũng là một sự vay trả, mặc dù bao giờ người ta cũng xót xa cho những người
như Jim Soukup, một TQLC từng tham gia trận đánh năm Mậu Thân ở Huế nói: Nó
giống như câu tôi khắc trên hộp quẹt Zippo của tôi: 'Tìm sự sống trong cõi
chết'. Tôi nhớ trong cuốn sách Grammaire của Claude Augé có thuật lại câu chuyện
một vị tướng đi thăm chiến trường sau khi trận đánh chấm dứt. Bỗng có một thương
binh địch nhắm vào vị tướng mà bắn. Rất may, vị tướng không hề hấn gì. Binh lính
của ông tính xông vào giết người lính bị thương đó đi thì ông ta cản lại, biểu
khiêng đi và chăm sóc, giống như những thương binh khác, không phân biệt bạn
thù. Suy cho cùng, dù ở bên nầy hai bên kia lằn đạn, có khi không là thù hận thì
cũng phải giết người để được sống, và ai ai cũng phải làm cái nhiệm vụ của mình
ngoài chiến trường mà thôi.
250
Vấn đề quan trọng là sự đối xử như thế nào khi một bên là người có vũ khí và một
bên là người tay không. Kẻ địch khi đầu hàng là họ đã hạ vũ khí, thì người ta
không được giết họ, không hẵn chỉ vì luật lệ quốc tế mà thôi mà còn là vấn đề
nhân đạo, là văn hóa của nhân loại, của một dân tộc hay chính một con người;
huống chi năm ngàn người bị chôn sống, bị bắn, bị đập đầu chỉ là người dân
thường, hoặc dù có là người lính chăng nữa thì người lính đó không còn cầm súng
trên tay, không có gì hiểm nguy cho người Cọng sản nữa cả. Giết người như thế
không những tàn ác, thiếu nhân tính mà lại còn là một trọng tội với nhân loại,
với lịch sử.
Người Cọng sản tàn ác bằng nhiều cách. Cẳng hạn như bắn phá bừa bãi có chủ đích.
Từ khi giành được chính quyền năm 1945, Cọng sản đã dùng chính sách chia để trị
một cách tinh vi. Họ gây chia rẽ Lương giáo, người có học và dốt chữ, giàu
nghèo, thành thị thôn quê, v.v... Do đó, việc pháo kích bừa bãi vào thành phố
không phải là không có chủ trương. Họ không đuổi dân ra khỏi thành phố như Pol
Pot, cho rằng đó là hạng người phi lao động, tiêm nhiễm thói hư tật xấu của bọn
tư bản bóc lột, nhưng trong cách suy nghĩ và thù hận đối với người dân thành
phố, giữa bọn Pol Pot Khmer Ðỏ và người Cọng sản Việt Nam cũng không khác gì
nhau; cái khác là một bên cứ tiến chầm chậm mà ăn chắc và một bên nóng vội mà
thôi. Ngay cả việc giết chết trẻ em cũng vậy. Giết một đứa trẻ con 'ngụy' thì
cũng như giết một tên 'ngụy'. Một đứa con 'ngụy' lớn lên sẽ thành một tên
'ngụy', khi nó đã thành một tên 'ngụy' thì sẽ khó cho 'cách mạng' hơn. Bẻ một
búp măng dễ hơn đốn một cây tre là vậy. - đây người ta không cần uốn măng mà cần
diệt nó tận gốc; đó là ý nghĩa 'cách mạng triệt để' của chủ nghĩa Mác-Lênin. Hãy
nghe Hoàng Cầm trong mấy câu thơ sau đây:
Em bé lên sáu tuổi,
Lủi thủi tìm miếng ăn
Bố: Cường hào nợ máu
Ðã trả trước nông dân
Mẹ bỏ con lây lất,
Ði tuột vào trong Nam
Dù em bé sáu tuổi mồ côi cha mẹ, không nơi nương tựa nhưng chính sách đảng và
nhà nước cấm, không cho người dân thương xót đứa con của địa chủ, phản động. Ai
vi phạm chính sách sẽ bị kiểm thảo:
Chị phải đình công tác
Vì câu chuyện trên kia
Buồng tối lạnh đêm khuya
Thắp đèn lên kiểm thảo
Nào liên quan phản động
Mất cảnh giác lập trường
(Em bé lên sáu tuổi, Hoàng Cầm, Giai phẩm Mùa Thu, 1956)
Phần đông người Mỹ thờ ơ về chính trị, ít hiểu biết Cọng sản nên tức giận vì
cảnh xảy ra ở Huế như sau:
Hầu hết hỏa tiễn đều bắn không tới mục tiêu, nổ bên trường giòng của Giám mục.
Trẻ con được tập trung vào đây làm nơi ẩn trú nên khoảng 20 em bị chết, 40 bị
thương nặng. Một linh mục chạy qua ban Chỉ huy của Gravel cầu cứu. Gravel gọi
máy cho đại tá Hughes, được mấy phút, y tá và xe GMC đến cứu giúp. Các em bị
thương nặng đều được chở xuống bệnh viện quân đội Hoa Kỳ Phú Bài.
Binh lính TQLC xúc động thấy rõ, còn Gravel giận muốn sôi lên. Cọng sản chẳng
tôn trọng luật lệ gì cả, chẳng quan tâm người bị họ giết là ai.
(The Battle For Huế, Keith William Nolan)
252
Bùi Tín (Thành Tín), trong cuốn Mặt Thật của ông có bàn đến vụ tàn sát ở Huế năm
Mậu Thân, nhưng tôi nghĩ tác giả chưa nắm vững trọn vẹn vấn đề và không thiếu
chủ quan trong phần giải thích, nên tôi phải nêu ra đây. Dù sao, trong số những
người Cọng Sản, ông Bùi Tín tỏ ra ít nhiều có lương tri hơn những người Cọng sản
khác.
Trong cuốn Mặt Thật của Thành Tín (Bùi Tín) viết:
Trong cuộc tiến công Mậu Thân 1968, cuộc tàn sát ở Huế được dư luận thế giới hết
sức chú ý. Cho đến nay vẫn còn nhiều câu hỏi xung quanh sự kiện nầy. Ðây là một
cuộc tàn sát có chủ đích? Vậy đích đó là gì? Quy mô của cuộc tàn sát nầy đến
đâu? Vài ba ngàn hay 5, 6 ngàn người?
(Mặt Thật, Thành Tín, trang 182)
Ðối với dư luận trong nước, nỗi đau của người dân Huế đã rõ: Nỗi đau của thân
thuộc, bà con, chòm xóm, đồng ngũ, đồng nghiệp, v.v... lan ra khắp nước rất
nhanh, chưa kể phương tiện tuyên truyền phát thanh, báo chí, truyền hình của dân
sự, quân sự, v.v...
Ông Bùi Tín còn nhắc lại rằng: Hồi tháng 2 và 3 năm 1973, trong trại Davis, tôi
đã từng nghe tướng Ngô Du rồi tướng Dư Quốc Ðống nêu lên vụ tàn sát nầy.
Thật ra, trong một cuộc chiến tranh ý thức hệ, dù là nội chiến, nồi da xáo nấu
thịt, thì vấn đề nhân đạo bị đặt đằng sau vấn đề chính trị. Cho nên, để đối đầu
với Cọng Sản, việc mấy ông tướng VNCH có nêu vụ tàn sát người dân vô tội ở Huế
năm Mậu Thân đi nữa thì việc ấy cũng mang màu sắc chính trị, tuyên truyền hơn là
nhân đạo. Ðó là điều đau lòng nhưng cũng phải nói thật ra như thế. Cũng do đó mà
thấy tội nghiệp cho những người chết oan ở Huế năm đó, đó là một điều.
Ðiều thứ hai là thế giới không quan tâm đầy đủ đến vụ tàn sát nầy, bởi vì như
Keith W. Nolan trong cuốn sách nói trên viết:
253
Các TQLC khác đứng bên cạnh lầu bầu: Chúa ơi! Một mùi hôi thối khó chịu từ hầm
bay lên, một mùi thúi đến lộn ruột bao trùm hết không khí chung quanh, lên tới
bầu trời thấp đầy mây và mưa phùn. Dưới đó, bên dưới giày dép là hàng trăm xác
người. Họ là người dân miền Nam Việt Nam, chết chồng lên nhau, nằm ngang nằm
dọc, tưởng như níu lấy nhau khi người ta xã súng máy vào họ. Dye có nghe người
ta đồn Cọng sản tàn sát hàng loạt người dân Huế, nhưng anh ta không bao giờ nghĩ
có thể có một cảnh tượng như thế nầy. Thân nhân và bạn bè của người chết đang
tìm cách để tìm người thân trong đám xác chết hỗn độn bắt đầu thối rữa ấy. Họ
lấy khăn tay để bịt mũi miệng lật từng xác chết tìm người thân.
Không bao giờ Dye có thể quên được hình ảnh ấy. Một năm sau, anh ta cũng nghĩ
đến hình ảnh ấy khi vụ Mỹ Lai được đăng trên báo. Dye không thể tin được, khi
báo chí làm ồn ào vụ Mỹ Lai nhưng lại chẳng bao giờ nói đến việc tàn sát của
quân CSBV ở Huế.
Báo chí Mỹ làm ồn ào vụ Mỹ lai (Cọng sản gọi là Sơn Mỹ) nhưng lại quên đi vụ tàn
sát ở Huế. Quên hay cố tình quên? Tác giả cho đó là điều bất công. Có lẽ vì vậy
ông ấy lại nhắc thêm một lần nữa:
Tuy nhiên, việc tàn sát đó lại không được giới báo chí thế giới quan tâm thích
đáng bởi vì việc khám phá ra hàng ngàn người chết nầy xảy ra trùng hợp với vụ
tàn sát ở Mỹ Lai do một trung đội thuộc quân đội Mỹ thực hiện. Lại còn có nhiều
vấn đề khác nữa: Những người chống chiến tranh ở Mỹ hồi ấy hoàn toàn không tin
Cọng sản có những hành động tàn ác đến như thế. Chẳng hạn như nhà nhiếp ảnh
Griffiths năm 1971 viết rằng người Mỹ đã dựng nên toàn bộ vụ tàn sát ở Huế nhằm
tạo nên 'một chiến dịch tuyên truyền nói rằng thương vong (dân sự) trong cuộc
chiến ở Huế, hầu hết là do người Mỹ xử dụng súng đạn một cách bừa bãi chưa từng
thấy bao giờ, rồi đổ Cọng sản tàn sát người dân.'
(Sđd K.W.Nolan)
254
Vụ tấn công tết Mậu Thân xảy ra toàn khắp miền Nam Việt Nam, ngay cả tòa đại sứ
Mỹ tại Saigon cũng là một mục tiêu và bị đặc công Cọng sản chiếm tầng trệt gần
trọn một buổi sáng làm cho phong trào phản chiến ở Mỹ lên rất cao, tạo thành một
trong những lý do khiến cho tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson không ra ứng cử
nhiệm kỳ kế tiếp nữa. Người Mỹ tự cho là một nước văn minh, có nghĩa là họ không
thể chấp nhận một nước lớn đem quân đánh một nước nhỏ dù bất cứ với lý do gì.
(Ðiều nầy trở thành tiền lệ buộc Trung Cọng phải tự giới hạn thời gian và không
gian khi tấn công Việt nam hồi tháng hai/1979). Hơn thế nữa, một dân tộc tự gọi
là có văn hóa thì không thể có chuyện trung úy Caley chỉ huy một trung đội tấn
công vào làng Mỹ Lai, gặp ai giết nấy, không phân biệt già trẻ lớn bé đàn ông
đàn bà. Chưa kể là những tên chủ chốt trong đám phản chiến, những tên sợ đi quân
dịch phải qua Việt Nam chiến đấu, những tên bị Cọng sản tuyên truyền và xúi dục,
lợi dụng vụ Mỹ Lai để làm to chuyện, gây áp lực buộc chính phủ Mỹ phải thay đổi
đường lối chiến tranh Việt Nam khiến có người cho rằng quân đội Mỹ không thua ở
chiến trường mà thua ngay trên đường phố Mỹ. Người Mỹ có văn hóa cao, không chấp
nhận cuộc tàn sát do người Mỹ thực hiện; thế họ chấp nhận cuộc tàn sát ở Huế vì
cuộc tàn sát không do người Mỹ làm ra chăng? Hay đơn giản họ chỉ muốn làm to
chuyện Mỹ Lai để thanh niên Mỹ khỏi ra chiến trường, con em họ khỏi đi chiến đấu
ở Việt Nam và bị thương vong là điều rất dễ xảy ra.
Vị giáo sư Anh văn của tôi, cựu viện trưởng viện đại học Clark là một viện đại
học nổi tiếng trên thế giới, nơi nhà phân tâm học Sigmund Freud (1856-1939) đến
dạy ở đây một thời gian dài, kể cho tôi nghe hồi năm 1968, lúc ông còn làm viện
trưởng, khoảng 50 ngàn sinh viên toàn khắp nước Mỹ về thành phố nầy (Worcester)
tổ chức một cuộc biểu tình phản chiến rất lớn. Ông ta là một trong ba vị viện
trưởng đại học ở đây lên diễn đàn, kêu gọi rằng nay đã đến lúc phải chấm dứt
chiến tranh. Cũng hồi ấy, người con trai độc nhứt của ông còn là sinh viên, chạy
trốn qua Canada để khỏi nhập ngủ. Sau nầy, khi chính quyền Carter ân xá mới trở
lại Mỹ. Nghe xong câu chuyện, tôi hỏi khắc ông ta một câu: Sau chiến tranh lạnh,
nước Mỹ vươn lên đứng hàng đầu thế giới về tất cả mọi mặt: Quân sự, kinh tế
v,v... Sở dĩ ngày nay Mỹ có được vị trí như thế có phải một phần là do cuộc
chiến Việt Nam hay không. Nó là điểm nóng của cuộc chiến tranh lạnh, điểm nóng
đó đã làm chiến tranh lạnh sớm chấm dứt, nghiêng thắng lợi về phía Mỹ. Vậy thì
58 ngàn thanh niên Mỹ hy sinh trên chiến trường Việt Nam cũng như những hy sinh
của chính người Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống Cọng Sản, cái lợi thuộc về
ai, người Mỹ hiểu quá rõ điều đó chứ? Tôi không nói thêm nữa vì tôi biết vị thầy
đáng kính của tôi đã hiểu rõ vấn đề ngay cả trước khi tôi đặt ra câu hỏi rồi.
Nước Mỹ là một quốc gia dân chủ, phương tiện truyền thông đầy đủ, phong phú, vấn
đề gì người ta cũng có thể nghe hết, biết hết vậy mà họ làm ngơ trước vụ tàn sát
ở Huế. Quả thật là rất nhiều, phải nói rất nhiều, phóng viên Mỹ đầy rẫy định
kiến ngay với chính phủ của họ và với chính phủ cũng như nhân dân Miền Nam VN,
và vô lương tâm. Ðưa ra vụ tàn sát ở Huế là không có lợi cho phong trào phản
chiến ở Mỹ nên họ làm ngơ, chưa kể có kẻ còn xuyên tạc như nhà nhiếp ảnh
Griffiths năm 1971 viết rằng người Mỹ đã dựng nên toàn bộ vụ tàn sát ở Huế nhằm
tạo nên 'một chiến dịch tuyên truyền nói rằng thương vong (dân sự) trong cuộc
chiến ở Huế, hầu hết là do người Mỹ xử dụng súng đạn một cách bừa bãi chưa từng
thấy bao giờ, rồi đổ Cọng sản tàn sát người dân.'
Hơn thế nữa, Bùi Tín còn đặt câu hỏi: Ðây là một cuộc tàn sát có chủ đích? Vậy
đích đó là gì?
Ông không mất công tìm cho ra chủ đích của vụ tàn sát mà chỉ nói một cách mơ hồ
rằng:
Họ bảo nhau đúng là dân ngụy rất nặng cân, dân kinh đô cũ của phong kiến, rất
bảo hoàng, dân hoàng phái, dân các mệ theo Bảo Ðại, theo Ngô Ðình Diệm và nay là
dân chống Cọng. Danh từ ác ôn hồi ấy dùng cùng rất tràn lan, tùy tiện. Sỹ quan,
hạ sỹ quan, cho đến nhân viên cảnh sát thì đều là ác ôn hết. Vì đó là bộ máy đàn
áp! Ðảng viên đảng Dân chủ cùng là ác ôn tuốt, vì đó là đảng của giới cầm quyền,
cán bộ bình định nông thôn cùng là ác ôn, vì công việc bình định được biết là
rất tàn bạo, có biết đâu nhiều người đi vào đó để tránh đi lính, công chức hành
chính tỉnh quận xã cũng bị coi là ác ôn vì là trong hệ thống chuyên chính của
địch; cho đến sỹ uqan, hạ sỹ quan lính thuộc sư đoàn biệt động nhiều khi cũng bị
coi là ác ôn vì đó là những đơn vị thiện chiến nhất... những ngươi làm ăn khá
giả, nhà cửa bề thế, có tủ chè sập gụ, hoành phi câu đối, thì bị coi là gia đình
phong kiến, quan lại, hoàng phái, ủng hộ chính quyền, và từng tham gia chính
quyền, chỗ dựa tin cẩn của chính quyền Saigon, nên một số cùng bị bắt đi.
Những người trong chính quyền hay quân đội miền Nam VN bị Cọng sản coi là địch,
là kẻ thù. Việc ấy đã rõ, nhưng ai giáo dục, tuyên truyền, khích động dân chúng
để nhìn người giàu (như Bùi Tín nói là tủ chè sập gụ, hoành phi đối liễn,v.v...)
nhìn những trí thức, giáo sư, giáo viên, sinh viên học sinh là ác ôn? Không phải
là Cọng sản hay sao? Chung qui, cũng tại Cọng sản hết, Cọng sản chia rẽ dân tộc,
ngụy tạo, xúi dục, gây thù hận, căm thù giai cấp, giàu nghèo, thành thị thôn
quê, v.v... từ đó mới nảy sinh ai không phải gốc bần nông, cố nông thì đều là kẻ
thù hết! Ðối với Cọng Sản đã là kẻ thù thì họ giết, chỉ gọn có một chữ giết là
xong chuyện, không cần biết kẻ thù đó hiện tại có nguy hiểm gì cho họ hay không,
kẻ thù đó hiện có vũ khí hay chỉ là tay không. Giết là tiện và gọn nhất, giết là
phương cách cách mạng triệt để nhứt.
Chẳng hạn như giữa hai kẻ thù có một con dao. Nếu người nầy không thể dùng con
dao đó thì người kia sẽ dùng nó để đâm mình.
257
Vậy phương cách hay nhứt khi không thể dùng được con dao thì hãy hủy diệt nó đi,
còn hơn là để con dao rơi vào tay kẻ thù. Ðó là cách nghĩ, cách làm của Cọng sản
khi họ tàn sát người dân Huế. Với Cọng sản, người dân không phải là mục đích họ
phục vụ mà lại là phương tiện họ xử dụng. Nếu cần, tàn sát toàn bộ dân chúng
trong thành phố cũng được, bởi vì khi Cọng sản rút lui rồi, quân đội miền Nam
tái chiếm, thì người dân đó lại thuộc chính quyền miền Nam. Chỉ cần thuộc chính
quyền miền Nam cũng đủ cho Cọng sản giết dân, nói chi tới việc người dân đó sẽ
ủng hộ, hoan hô, cọng tác với chính quyền Việt Nam Cọng hòa. Chỉ cần bỏ phiếu
bằng chân cũng đủ làm cho Cọng sản mất mặt, căm tức, hận thù, đủ để cho họ tạo
ra Ðại lộ Kinh hoàng, nói chi tới những điều xa xôi khác nữa. Cọng sản đã chụp
cho họ cái mũ Kẻ thù của nhân dân, Việt gian, phản động rồi thì họ còn có con
đường nào khác ngoài cái chết!? Nói xa hơn, Boat people là một danh từ mới, đủ
làm cho Cọng sản xấu mặt, căm thù nhưng Việt kiều hồi hương thì lại rất ... hoan
nghênh!!!
Trong vụ tàn sát tết Mậu thân, tôi biết có 5 cụ già, người nào cũng trên 70 chục
tuổi, trước đó tôi thường đến thăm. Họ đều bị Cọng sản bắt đi mất biệt, cũng như
vài sinh viên, học sinh, và cả một nữ học sinh cũ của tôi bị chôn sống (xem phụ
bản). Tôi không đặt dấu hỏi tại sao họ bị giết. Nếu Việt Nam không có đảng Cọng
sản mà họ bị giết trong một cuộc nội chiến không phải vì ý thức hệ thì đó mới là
vấn đề. Còn họ bị giết vì Cọng sản, thì có gì phải thắc mắc. Không lý con mãng
xà tinh trong truyện Thạch Sanh Chém Chằng bắt người về để nó... phục vụ mà
không phải để ăn thịt hay sao?!
Ông Bùi Tín không cần phải tìm cho ra ai ra lệnh giết người dân Huế? Người ra
lệnh không phải là tướng Cọng Sản Trần văn Quang, tư lệnh mặt trận Huế mà sau
nầy, nhà sử học Mỹ Stanley Karnow không dám mời qua Mỹ vì sợ phản ứng của người
Việt tỵ nạn tại Hoa Kỳ, hay đại tá Cọng Sản Lê Minh, bạn của Bùi Tín, người chỉ
huy khu tả ngạn sông Hương trong trận Mậu Thân, hay đại tá CS Nguyen Van hoặc
đại tá CS Nguyen Trong Dan chỉ huy hai trung đoàn 5 và 6 tấn công Huế như nói
trong sách của K.W. Nolan, hay Thân Trọng Một hay Sáu Kính, hay Hoàng Phủ Ngọc
Tường như dư luận Huế thì họ cũng chỉ là tay sai, là thần chết do Diêm Vương sai
đi bắt hồn người ta mà thôi.
Riêng Hoàng Phủ Ngọc Tường, cho tới lúc gần chết, y vẫn còn thù hận người dân
Huế đã 'phản bội' y, cho nên HPNT mới gọi những người bị tàn sát năm Mậu Thân là
'những con rắn độc'. Tại sao y không thấy trong số những con rắn độc ấy, có
người là bà con của y, là bạn bè y, thậm chí cả cụ Nguyễn Kháng, giáo sư Pháp
văn trường Quốc Học là thầy dạy cũ của y khi y học ở đây. Trong vụ Phật giáo
tranh đấu năm 1966, nào là Bàn thờ xuống đường, trò lăng nhăng Hội đồng Nhân dân
Cứu quốc, lực lương nầy, lực lượng kia tranh đấu, v.v... thì HPNT đã tuyên
truyền Cọng sản trong đám học trò của y tại trường Quốc học Huế; y và em y là
Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Ðắc Xuân tổ chức hoạt động nội thành cho Cọng sản,
v.v... Cái gọi là Hội đồng Nhân dân Cứu Quốc của Phật giáo bị rất nhiều phe
nhóm, đảng phái chui vào đó núp bóng hoạt đông, kể từ Việt Quốc, Ðại Việt, cho
đến Phật tử, tín đồ Thiên chúa giáo, lưng chừng, thiên tả, đầu cơ trục lợi, cả
Xịa và cả Cọng sản nằm vùng. Khi quân Thiệu Kỳ ra Huế dẹp bàn thờ, bị vở ổ, cả
ba tên nói trên đều chạy lên chiến khu. Do HPNT, HPNP và NÐX báo cáo lập công,
Cọng sản tin rằng nếu chiếm được Huế, dân chúng sẽ đứng lên hoan hô, ủng hộ vì
Huế là nơi xưa nay có truyền thống đấu tranh chống Pháp, chống chế độ Ngô Ðình
Diệm, chống Thiệu Kỳ, chống Mỹ v.v...
Cọng sản bị hớ ở chỗ nầy. Huế quả thực có đấu tranh chống Pháp, chống chế độ Ngô
Ðình Diệm nhưng lại không chống Mỹ và không hoan nghênh Cọng sản bao giờ.
Bùi Tín thấy rõ điều đó (Có nghĩa là sau cuộc tấn công tết Mậu Thân, Cọng sản
rút kinh nghiệm, nhất là qua báo cáo của Tường, Phan và Xuân), ông viết: Thêm
nữa là hồi ấy, trong không khí căng thẳng đột nhập thành phố, thấy dân không nổi
dậy, lại còn bỏ chạy, rất ít người đón chào, phối hợp giúp đỡ bộ đội, nên bộ đội
nhập thành phố có thành kiến với dân Huế.
Gia Hội là khu Cọng sản kiểm soát hoàn toàn và lâu nhứt, 26 ngày, bọn Tường,
Phan và Xuân cũng thành lập các lực lượng Giáo chức tranh đấu, công chức tranh
đấu, quân nhân tranh đấu y như hai năm trước, thời kỳ Hội Ðồng Nhân Dân Cứu quốc
vậy. Thay vì hoạt động hăng hái như trong các thời kỳ đấu tranh trước, bây giờ
các thành viên tranh đấu bỏ trốn hầu hết, dù Cọng sản hăm he, dọa nạt, khủng bố
đủ điều. Thái độ bất hợp tác ấy khiến cho Tường, Phan, Xuân tức giận và căm thù
người dân Huế là đương nhiên.
Tường, Phan thuộc dòng dõi quan lại, ông hoàng giáp Họ Hoàng người làng Bích
Khê, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, bà con họ với cố nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ,
thi sĩ Cuồng Vũ, nhà văn Quang Ðạo và ông Hoàng hữu Quýnh (tác giả Tôi Bỏ Ðảng).
Do Pháp xâm lược, thời thế thay bậc đổi ngôi mà dòng họ y suy tàn. Thân phụ
Tường-Phan chỉ đậu bằng sơ học yếu lược (lớp ba tiểu học) và làm y tá. Trong
dòng họ của Tường-Phan có bà Hoàng Thị Loan theo Cọng sản từ hồi còn trẻ, trước
cả Lê Duẫn, có tham gia cuộc họp mặt những nhà cách mạng lão thành do Lê Duẫn tổ
chức năm 1976 ở Hà Nội, sau khi chiếm xong miền Nam Việt Nam. Bọn y cũng tin
tưởng Lê Duẫn là người đồng hương (làng Bích La, phủ Triệu phong, tỉnh Quảng
Trị) để dễ thăng tiến trong 'đường Kách mạng'. Tuy vậy, bản chất Tường thì tiểu
tư sản mà lại ưa ba hoa Cọng sản, hoàn toàn khác với Vĩnh Linh, cũng hoạt động
cho Cọng Sản và cũng dạy ở trường Quốc Học, nên nhiều người không ưa Tường.
Trong khi đó thì y lại tự cao và miệt thị đồng nghiệp y ở trường Quốc Học vì
không thuộc dòng dõi quan lại và không có tinh thần cách mạng (Cọng sản). Thực
ra, bố y là người bất đắc chí, cậu ấm con nhà quan to mà chỉ làm y tá bệnh viện,
Nho học cũng dốt mà Tây học thì chỉ có bằng sơ học yếu lược. Sự bất đắc chí của
người cha ảnh hưởng sâu đậm đến các con. Mặc dù hoạt động cho Cọng sản nhưng
Tường bị Cọng Sản loại ngay từ đầu vì hai điều, một là làm cho Cọng sản bị hớ
trong vụ tấn công tết Mậu Thân, hai là bản chất tiểu tư sản của y bộc lộ khá rõ.
Những năm cuối đời, khi biết Cọng Sản không dùng y nữa, y tìm tới hòa thượng Trí
Quang để hy vọng nếu Cọng sản thay đổi đường lối chính sách thì y sẽ có cơ hội
nhờ Phật giáo mà đi lên như thời kỳ Hội Ðồng Nhân Dân Cứu Quốc 1966 vậy. Biết y
là tên hoạt đầu, hòa thượng Trí Quang chỉ cho y gặp mặt một lần rồi thôi, sau đó
hòa thượng Trí Quang từ chối mỗi lần y xin gặp. Y qua đời trong nỗi tuyệt vọng
và bất đắc chí như thân phụ y, nhưng y hơn cha y ở chỗ hoạt đầu, lưu manh và tự
cao hơn, đặt nhiều tham vọng hơn nơi chế độ Cọng sản.
Bao giờ y cũng hận thù người Huế, họ không đứng lên hoan nghênh Cọng sản mà còn
bỏ chạy. Y gọi những nạn nhân bị thảm sát trong dịp tết Mậu Thân là những con
rắn độc. Chữ ấy dùng cho y thì đúng hơn. Dạy học, y dùng toàn một giọng điệu
thiên Cọng, quá khích, đào tạo nên một lô học trò bây giờ đang sống ở Mỹ chủ
trương hòa hợp hòa giải dân tộc, y tổ chức được một hệ thống chỉ điểm trong số
học trò của y, ghi nhận từng người, tên tuổi, chức vụ, địa chỉ, v.v... nên ngay
hôm đầu tiên chiếm thành phố Huế, những người nầy liền bị bắt và bị giết tức
thì. Ðể rõ hơn, xin trích một đoạn sau đây trong sách 'The Battle For Hue' của
K.W. Nolan:
Chiến tranh đã đến với người dân Huế, và họ đã trả một giá đắt. Mặc dù thành phố
đã vươn mình đứng lên giữa cảnh tàn phá, hình ảnh máu lửa của trận chiến không
sao hàn gắn được. Tệ hơn cả vấn đề người chạy loạn, những thương vong vì tên bay
đạn lạc, là vấn đề Việt Cọng và quân CSBV đã tàn sát nhiều người khi họ chiếm
thành phố nầy. Qua nhiều năm, với nhiều chứng cớ thu nhặt được, người ta đã tìm
ra nhiều ngôi mộ tập thể, cùng những tài liệu của Cọng sản bắt được, lời khai
của tù binh chiến tranh, người ta biết rằng, với lòng thù hận và tàn ác, khi
tiến vào Huế, Cọng Sản đã có sẵn danh sách những người bị họ gọi là 'Kẻ thù của
Nhân dân'. Danh sách nầy gồm những người làm việc cho chính phủ, viên chức thành
phố, trí thức, giáo chức, sinh viên, binh sĩ, người ngoại quốc - và gia đình họ
- tất cả những ai được xem có khả năng trở thành kẻ thù của Cọng sản. Có một
thành phần khác: Tất cả hạ tầng cơ sở Cọng sản hoạt động bí mật nay đều xuất đầu
lộ diện. Có thể đây gồm cả những người ngây thơ, ngoài cuộc. Người dân bị lùng
bắt và bị giết ngay trong thành phố. Khi cuộc chiến rõ ràng cho thấy không thể
thắng được, Việt Cọng đưa tù binh chính trị ra khỏi thành phố bằng nhiều ngã
khác nhau và giết chết họ. Một số người bị chôn sống. Việc Cọng sản che đậy hành
động tàn ác của họ là nỗi đau lớn cho người dân và phải qua nhiều năm, phe đồng
minh mới khám phá ra được. Cuối cùng chính phủ miền Nam đã tìm ra ba ngàn tử thi
ở những ngôi mộ tập thể quanh thành phố Huế. Khoảng hai ngàn người nữa vẫn chưa
tìm ra tung tích.
Bên cạnh vườn hoa Bến Ngự là một dãy nhà ba căn, căn giữa và bên trái là nơi cư
ngụ gia đình của hai giáo sư, bên phải là nơi ông Võ Phú, Cảnh sát trưởng quận
Thành Nội cùng gia đình ở. Ngay sáng mồng 2 Tết (Cọng sản chiếm thành phố Huế
đêm 1 Tết), có một cậu học trò khoảng 14, 15 tuổi, mặc áo may-ô trắng dẫn hai
cán bộ Cọng sản đến ngay nhà ông Võ Phú để bắt ông ta. May mắn, ông ta đề phòng
trước nên leo vách tường qua trốn ở nhà sau ông giáo sư bên cạnh, thoát chết.
Cọng sản cũng vào bắt ông Lê văn Thị, phó tỉnh trưởng cách nhà ông Võ Phú một
cái hàng rào. Ông Thị cũng bỏ trốn, sau đó bị bắn chết ngay ngã tư cạnh vườn hoa
Bến Ngự.
Rõ ràng trước khi vào chiếm thành phố Huế, Cọng sản đã có sẵn danh sách những
người họ cần bắt, giết.
Như đã nói ở trên, khi chiếm Gia Hội xong rồi, Cọng sản cũng thành lập những cái
gọi là Lực lượng Tranh đấu giống như thời kỳ Hội đồng Nhân dân Cứu quốc. Sau đây
là một buổi họp điển hình đầu tiên của Lực lượng Giáo chức Tranh đấu do một
người bạn tôi kể lại.
Theo lệnh gọi, tất cả các giáo chức phải có mặt tại trường Trung Học Gia Hội,
đây là ngôi trường mới xây thời Ðệ Nhứt Cọng Hòa. Buổi họp được tổ chức trong
một lớp học, các giáo chức ngồi trên băng ghế học sinh, phần đông họ đều còn trẻ
và cố ngồi gần ông Cao Xuân Duẫn, giáo sư Anh văn, bậc thầy của các ông thầy trẻ
nầy để được an tâm vì ai cũng lo, không biết rồi ra sẽ như thế nào. Có nhiều
người không phải là giáo chức trà trộn vào đây, không phải họ là cán bộ Cọng sản
mà phần đông là sĩ quan, phục vụ xa Huế, về nghỉ phép Tết, giả tham gia vào lực
lượng giáo chức hơn là lực lượng sĩ quan để tránh Cọng sản để ý. Trên bàn thầy
giáo, một cán bộ mặt mày nghiêm nghị, mang kiếng đen, đang đọc sách báo gì đó.
Bỗng có một du kích dẫn một thanh niên mặc áo màu lam, tay bị trói giật cánh
khuỷu, đi ngang lớp học, vào cửa trước ra cửa sau, trước bàn thầy giáo và trước
mặt mọi người. Khoảng 5 phút sau, nghe phía vườn sau có 3 tiếng súng AK nổ.
Xong, người du kích lúc nảy quay trở vào, đưa nắm tay chào anh cán bộ đang ngồi
tại bàn thầy giáo, nói:
- Báo cáo đồng chí, thi hành xong.
Người cán bộ nói: Ra xem lại y đã chết chưa?
Anh du kích đi ra vườn sau, một chốc quay vào nói: Báo cáo đồng chí, chết rồi.
Trước quang cảnh như thế, ai nấy đều lạnh mình.
Bấy giờ, anh cán bộ đứng lên tuyên bố lý do buổi họp và bầu ban chấp hành. Danh
sách đã soạn sẵn, cán bộ đọc:
Anh Nguyễn văn... chủ tịch,
Anh Nguyễn văn B... phó chủ tịch,
V,v...
Kêu đến tên ai thì người đó đứng lên cúi đầu vâng dạ, chẳng ai dám có ý kiến gì.
Khi chiếm được thành phố Huế, đài phát thanh Hà Nội và đài phát thanh Giải phóng
Miền Nam, rêu rao là dân Huế đã nổi dậy giành chính quyền, hoan hô và tham gia
thành lập chính quyền cách mạng. Trong thực tế, dân Huế hoan hô và tham gia bằng
cách như vậy đấy, hèn chi ai lọt vào tay Cọng Sản thì chỉ có một đường chết mà
thôi.
Người dân Huế vốn trọng sự học và tôn kính thầy cô. Trong trường hợp HPNT, y
từng là thầy giáo, dạy ở Quốc Học trong khoảng từ 1960-1966. Ngày nay, đã nhắm
mắt xuôi tay, y còn được gì trong lòng người dân Huế? Tha thứ hay thù hận? Nếu
người Huế thù hận y thì có sai chăng khi y là thầy giáo, không đem đạo đức của
thánh hiền truyền thụ cho học sinh mà chỉ reo rắc toàn thù hận cho đám học trò?
Ca dao đời hai bà Trưng có câu:
Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước phải thương nhau cùng
Người Cọng sản Việt Nam cũng là người Việt, cùng nguồn gốc, tổ tiên, nhưng họ
chẳng thương đồng bào bao giờ, mặc dầu vẫn thường rêu rao là đồng bào (cùng một
bọc sinh ra), là nhân dân. Họ đã bị Cọng sản hóa, đã bị hận thù che lấp mọi cách
nhìn. Trong khi đó thì người Mỹ, dù khác chủng tộc, nhưng vì bác ái, nhân đạo,
trong trận đánh Huế, họ lo cho người dân Huế hơn cả người Việt với nhau.
Ngoài nhiệm vụ chiến đấu đánh đuổi quân Cọng Sản ra khỏi thành phố, binh lính
TQLC Hoa Kỳ còn phải giúp đỡ người chạy loạn, cung cấp cho họ gạo và chăn mền,
quần áo; chôn cất những người chết, phần nhiều là xác chết quân CSBV, quét dọn
chùi rửa bệnh viện Trung ương Huế để bệnh viện có thể hoạt động bình thường trở
lại.
Quả thật, khi chiếm thành phố, quân CSBV không lưu tâm gì tới những cơ quan y
tế, xã hội, coi như đói no, bệnh hoạn thương tích v,v... tự người dân lo liệu
lấy. Hơn thế nữa, họ lấy hết số thuốc trong các tiệm thuốc Tây và trong các bệnh
viện Huế đem lên chiến khu.
Về phía Việt Nam Cọng Hòa, chính quyền địa phương cấp tỉnh không có tinh thần và
cũng thiếu khả năng đảm đương nhiệm vụ, thành ra phía người Mỹ phải gánh gồng
tất cả mọi chuyện.
Là những người lính trẻ, họ không thể không có những hành vi trẻ con buồn cười.
Tuy nhiên, so với các thứ quân viễn chinh từ xưa, và gần nhất là với quân Pháp ở
Ðông dương, họ tự chứng minh được là những con người có văn hóa nhất:
Carter và mấy người lính TQLC vượt mấy hàng cây thấp và tới một ngôi chùa nhỏ ở
giữa một khu vườn. Họ đứng nhìn một lúc. Chùa thật đẹp, mái cong lợp ngói. Nhang
trong bình chưa đốt. Carter thấy tượng Phật ngồi trên bàn thờ, anh ta rất muốn
lấy tượng Phật đó để làm kỷ niệm. Tuy nhiên, anh ta biết phải dấu ở đâu đó trong
đồ dạc suốt 9 tháng trước khi về nước. Vã lại, anh ta nghĩ nếu chôm pho tượng
ấy, Chúa sẽ không cho anh là người làm điều phải.
Từ điểm có văn hóa đó, họ không cướp bóc, hãm hiếp phụ nữ như quân Tàu ngày xưa
hay quân viễn chinh Pháp vài chục năm trước, binh lính Mỹ để lại trong lòng
người dân Việt Nam nói chung và Huế nói riêng rất nhiều thiện cảm. Từ điểm đó,
họ được người Việt giúp đỡ, che chở:
Có một lần Schamberger đi vào MACV, một em bé gái tên là Li báo động cho anh ta
đừng đi vào con đường em bé đưa tay chỉ vì con đường đó, như em bé nói:
'beaucoup Vixi'. Lời báo động của em bé đã cứu mạng anh ta; nhiều năm sau anh ta
còn giữ ấn tượng sâu sắc đó nên khi sinh con gái, anh cũng đặt tên con anh là
Sherri Li.
- * -
Trong vụ tàn sát người dân thường ở núi Trầu như tôi trình bày ở trên, linh mục
Nguyễn Thượng Hiền, chánh xứ họ đạo An Hòa có giải thích cho tôi hay là hồi ấy,
1953, tỉnh ủy Long-Châu-Hà (Long Xuyên, Châu Ðốc, Hà Tiên) của Cọng sản đóng tại
núi Trầu, lẫn lút trong dân chúng. Hành động quân sự của Pháp khi cho lính nhảy
dù xuống núi Trầu là để đánh phá cơ quan nầy của Việt Minh. Với Pháp, đàn ông,
thanh niên tất cả đều là Việt Minh nên họ bắn giết tất cả những ai thuộc thành
phần nầy. So với vụ Mỹ Lai, binh sĩ Mỹ tàn ác hơn vì họ giết cả trẻ em, đàn bà,
mức độ là ở một làng. So với vụ tàn sát ở Huế tết Mậu Thân thì số lượng người bị
giết cao hơn nhiều bởi vì hận thù chất ngất, cao hơn cột cờ Ngọ Môn, cao hơn cả
rặng Trường Sơn.
Tuy nhiên, có đều mai mỉa, trong ba cuộc tàn sát nói trên, vụ tàn sát ở núi Trầu
dù sao cũng tương đối ít dã man hơn cả, mặc dù trong binh lính nhảy dù Pháp,
không ít là người Ma-Rốc.
Worcester, Mass ngày 10 tháng 5/2002
Hoàng long hải /tuệ chương
(het)