|
Tàu Cộng: Chánh sách di dân và lấn chiếm biên
giới
Tiến Sĩ Nguyễn Ngọc Sảng
Gần đây nhà cầm quyền Hà Nội quyết định miễn chiếu khán nhập cảnh cho khách du
lịch người Trung Quoc khi vào Việt Nam. Đây là một quyết định đầy bất trắc cho
tương lai dân tộc. Chúng ta hãy nhìn lại những gìrung Quốc đã làm trong quá khứ
với các nước láng giềng của họ trong chánh sách di dân và biên giới.
Trung Quốc và Liên Sô có chung chiều dài biên giới khoảng 4,300 cây số. Họ đã có
một cuộc chiến đẫm máu vào năm 1969 giữa hai người đồng minh ruột thịt vìTrung
Quốc đã xua quân chiếm vùng sông Amur của Liên Sô, mà họ cho là thuộc chủ quyền
của họ. Liên Sô phải dùng đến hỏa tiễn để tiêu diệt quân Trung Quốc. Sau đó hai
người bạn tiêu biểu cho thành trì Xã Hội Chủ Nghĩa đã ký một hiệp định về biên
giới năm 1977, nhưng Trung Quốc vẫn lén lút cho quân lính lấp đá và dồn bao cát
bỏ xuống bờ sông Amur bên phía Trung Quốc để lấn ranh Liên Sô.
Khi Liên Sô xin gia nhập vào cơ quan Mậu Dịch Thế Giới (WTO), Trung Quốc chỉ đặt
có một điều kiện duy nhất để hỗ trợ Liên Sô đó là cho phép người lao động Trung
Quốc được vào Liên Sô miễn chiếu khán nhập cảnh.
Một khi họ đã vào được Liên Sô, họ dùng mọi cách để ở lại hợp pháp. Ông Andrei
Chernenko, vụ trưởng vụ Di Trú Liên Sô đã từng phát biểu rằng người Trung Quốc
dùng mọi hình thức để hợp pháp hóa sự hiện diện của họ, chẳng hạn như kết hôn
với người bản xứ, hoặc kinh doanh để tạo sản nghiệp lớn để dễ dàng trong việc
lưu trú vì tài sản lớn của họ.
Mặc dù đã ký kết hiệp định với Liên Sô, nhưng những vị lãnh đạo của Trung Quốc
như Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình vẫn khẳng định rằng vùng đất Vladivostok và
Khabarovsk vẫn là của họ, và trong trường học họ vẫn tiếp tục dạy học sinh rằng
Liên Sô đã dùng bạo lực chiếm những vùng đất trên của họ.
Hơn thế nữa, họ đưa ra những bằng cớ về Nhân Chủng Học để chứng minh rằng những
bộ lạc Trung Hoa có mặt ở đó rất lâu trước khi người Liên Sô tới.
Sự di dân của người Trung Quốc qua đường biên giới vẫn là nỗi ám ảnh của chính
quyền Liên Sô. Theo ước tính của các chuyên gia thì đến năm 2010 dân số Trung
Quốc tại vùng Cận Đông của Liên Sô sẽ lên đến 10 triệu người (hiện tại khoảng
3,26 triệu) và kiểm soát từ 30 đến 40 phần trăm nền kinh tế của vùng nầy. Vì vậy
gần đây ông Viktor Ishayev, toàn quyền vùng Khabarovsk quyết định không cấp
quyền công dân cho người Trung Quốc dù đã kết hôn với người Liên Sô tại địa
phương ông, mặc dù người ngoại quốc khác được hưởng quyền nầy.
Với Ấn Độ, bắt đầu từ năm 1950 đã có những sự căng thẳng giữa hai quốc gia, nhất
là vào những năm 1956-1957 khi Trung Quốc xây dựng trục giao thông quân sự trên
vùng đất đang tranh chấp Aksai, phía tây Tân Cương. Ấn Độ lên án Trung Quốc xâm
lăng vùng đất này của họ. Tiếp theo là cuộc đàm phán giữa đôi bên kéo dài trong
ba năm không mang lại kết quả nào cả. Tháng Mười năm 1962 Trung Quốc đưa chín sư
đoàn chiếm đóng dọc theo biên giới 3,225 kí-lô-mét vùng biên giới Hy Mã Lạp Sơn
và Trung Quốc. Hai nước đã nổ ra một cuộc đụng độ về biên giới rất khốc liệt.
Kết qủa là Trung Quốc đã đẩy lùi Ấn Độ sâu 50 kí-lô-mét vào vùng đất Aksai mà Ấn
Độ cho là thuộc chủ quyền của họ, và Trung Quốc đơn phương tuyên bố ngưng chiến.
Mười hai năm sau khi ngưng chiến, một cuộc họp song phương cao cấp về biên giới
giữa hai quốc gia được tổ chức tại Tân Đề Ly (Ấn Độ) vào tháng Hai năm 1994. Một
giai đoạn mới về sự bang giao giữa hai nước bắt đầu, tuy vấn đề biên giới giữa
hai nước vẫn xảy ra những mâu thuẩn gay gắt.
Với Mông Cổ, sau 11 năm làm chủ Hoa Lục, tháng Năm 1960, Thủ Tướng Chu Ân Lai
của Trung Quốc thăm Ulaanbaatar (U-Lan-Ba-To) của Mông Cổ để bàn về hiệp định
hợp tác song phương, và cả hai bên đã đạt được một hiệp uớc về biên giới. Trong
buổi tiệc khoản đãi lãnh đạo Mông Cổ tại Bắc Kinh ngày 27 tháng 12 năm 1960, Chu
Ân Lai tuyên bố: “Sự nhanh chóng giải quyết êm đẹp vấn đề biên giới giữa hai
quốc gia không những đánh dấu sự củng cố và phát triển tình hữu nghị giữa hai
quốc gia, mà còn tạo gương sáng trong mối quan hệ giữa hai nước xã hội chủ nghĩa
anh em”. Tiếc thay kỷ nguyên hợp tác thân thiện này tồn tại không lâu.
Mặc dù hiệp định về biên giới được ký kết chính thức năm 1962, nhưng mãi đến
1982 mới được thực hiện. Trong khoảng thời gian 20 năm đó Trung Quốc luôn tìm
cách lấn biên giới và cho di dân sang Mông Cổ. Năm 1981 dấy lên phong trào trục
xuất người Trung Quốc ra khỏi Mông Cổ đã bùng nổ. Thêm vào đó, Liên Xô tố giác
Trung Quốc đã vi phạm hiệp định về biên giới với Mông Cổ tất cả hơn 400 lần chỉ
riêng trong năm 1969. Tờ New York Times, ngày 27 tháng 5 năm 1983 chạy trang đầu
tin Mông Cổ trục xuất nhiều ngàn công nhân Trung Quốc ra khỏi nước họ. Ngày 2
tháng 9 năm 1964, tờ Pravda, cơ quan ngôn luận chính thức của đảng cộng sản Liên
Xô loan tin rằng Mao Trạch Đông rất hối tiếc vì không tranh thủ được sự đồng
tình của Liên Xô để Trung Quốc chiếm Ngoại Mông. Trung Quốc, một quốc gia rộng
mênh mông, nhưng người cầm quyền của họ luôn luôn tìm cách lấn chiếm lân bang
mình dù chỉ năm, mười ngàn cây số !
Với Bắc Hàn, trong hai điện tín gởi cho Stalin vào tháng 10 năm 1950, Mao Trạch
Đông khẳng định rằng nếu toàn bộ Đại Hàn bị Mỹ chiếm đóng, và lực lượng cách
mạng Đại Hàn bị hủy diệt, bọn xâm lược Mỹ thêm kiêu căng, và toàn bộ vùng bắc Á
sẽ bất lợi cho chúng ta (Liên Xô và Trung Quốc). Sau khi thấy Stalin ngần ngại
trong việc gởi không lực yểm trợ, Mao kết luận rằng chúng ta phải tham chiến,
tham chiến sẽ rất có ích lợi và ngược lại sẽ rất tai hại. Mao không ngần ngại
tuyên bố mục tiêu của Trung Quốc trong việc xua quân chiếm Bắc Hàn là không
những bảo vệ biên giới và cứu vãn chế độ Bình Nhưỡng. Mao hứa với Stalin là sẽ
gởi 12 sư đoàn vào Bắc Hàn vào tháng 10 năm 1950 và sẽ tiếp tục gởi thêm 24 sư
đoàn nữa vào mùa xuân và hè năm 1951.
Với chiêu bài “Mặt Trận Giải Phóng” của thế giới, Mao quyết định chiếm Bắc Hàn
để bảo vệ mặt trận giải phóng của xứ này, bảo vệ cả mặt trận giải phóng Trung
Quốc và thế giới nữa. Mao lạc quan tin rằng Hoa Kỳ sẽ bị bại trận tại Bắc Hàn,
hậu quả sẽ thuận lợi cho mặt trận giải phóng quốc tế. Rõ ràng là Trung Quốc nhận
ra cuộc chạm trán giữa họ và Hoa Kỳ là không thể tránh được, nhất là khi hạm đội
thứ bảy của Hoa Kỳ bắt đầu bỏ neo ngoài khơi Đài Loan trong lúc quân đội Liên
Hiệp Quốc can thiệp vào cuộc chiến Triều Tiên. Họ muốn đem chiến tranh ra ngoài
nước họ, và Bắc Hàn là nơi Trung Quốc lựa chọn cho cuộc chiến. Tóm lại, mục tiêu
của họ khi xua quân vào Bắc Hàn không phải vì bảo vệ nước xã hội chủ nghĩa anh
em, mà là chiếm nước anh em làm chiến trường để đọ sức với địch thủ. Họ luôn coi
các nước láng giềng là “ao nhà” và có quyền xử dụng vào bất cứ mục tiêu nào họ
muốn.
Với Tây Tạng, sau khi chiếm được Hoa Lục vào năm 1949, nhà cầm quyền cộng sản
Trung Quốc lập tức đòi Tây Tạng phải chấp nhận (1) quốc phòng của Tây Tạng phải
do Trung Quốc kiểm soát, (2) Tây Tạng là một bộ phận của Trung Quốc. Dĩ nhiên đề
nghị phi lý này không được chấp nhận. Liền sau đó, ngày 7 tháng 10 năm 1950
Trung Quốc xua 40,000 quân đánh chiếm Chamdo, thủ đô miền nam Tây Tạng. Mặc dù
Ấn Độ, Hoa Kỳ, Anh Quốc cùng một số quốc gia khác phản đối quyết liệt. Trung
Quốc không những làm ngơ mà còn thách thức quốc tế bằng cách đưa thêm một quân
đoàn tiến vào thủ đô Lhasa vào ngày 9 tháng 9 năm 1951. Lần lượt các thành phố
khác của Tây Tạng rơi vào tay quân Trung Quốc. Mặc dù Tây Tạng đã anh dũng tạo
ra hai cuộc khởi nghĩa vào các năm 1956 và 1959, nhưng tất cả đều bị quân Trung
Quốc đè bẹp. Kết quả là hơn hai chục ngàn người Tây Tạng bị giết, khoảng 80 ngàn
người cùng Đức Dalai Lama phải lưu vong sang Ấn Độ.
Sau hai thập niên bị thống trị bởi Trung Quốc, khoảng 1,2 triệu người Tây Tạng,
tức 20% dân số đã bỏ mình trong các trại tù hoặc tại các nông trường tập thể,
hoặc bị thủ tiêu. Nhiều tù nhân bị bỏ đói đến chết. Hơn 6,000 cơ sở văn hoá, đền
đài, chùa chiền, tu viện bị phá hủy. Để duy trì lực lượng thống trị tại Tây
Tạng, khoảng 300,000 binh sĩ và công an, phần lớn lương thực bị thu mua, vì thế
đã gây ra hai nạn đói vào các năm 1958-1961 và 1966-1976
Nhưng âm mưu thâm độc nhất vẫn là chánh sách đồng hoá cố hữu mà họ đã từng áp
dụng không thành công tại Việt Nam khi họ đô hộ ta hàng ngàn năm trước. Họ đưa
đến Tây Tạng khoảng 7,5 triệu người Trung Quốc, vượt xa dân số Tây Tạng khoảng
nửa triệu. Người Tây Tạng trở thành dân thiểu số ngay trên chính quê hương cuả
họ. Họ thống trị Tây Tạng không những về mặt quân sự, chính trị, kinh tế, văn
hoá và xă hội, mà còn ngự trị về mặt ngôn ngữ, vì ngôn ngữ chính thức là tiếng
Trung Hoa, và Tây Tạng chỉ là ngôn ngữ địa phương.
Tây Tạng là bài học xương máu mà nhà cầm quyền Hà Nội phải học để bảo đảm sự tồn
tại, độc lập của đất nước.
Với Việt Nam, trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước, tổ tiên chúng ta trải
qua muôn vàn khó khăn với nước lân bang khổng lồ Trung Quốc. Với quan niệm Bắc
địch, Tây rợ, Đông di, Nam man, các triều đại vua chúa Trung Quốc luôn đánh phá,
gây bất ổn để đồng hoá, hoặc thôn tính Việt Nam. Cộng Sản Trung Quốc giữ nguyên
quan niệm Đại Hán lạc hậu đó.
Chỉ kể trong lịch sử cận đại, hai đảng cộng sản Việt Nam và Trung Quốc rất thân
thiện trong thời gian Việt Nam chống Pháp, nhưng sau khi Stalin qua đời, người
kế vị là Khrushchev, quan niệm về cộng sản của ông khác hẳn, nhất là với Mao
Trạch Đông, từ đó đưa đến tình trạng căng thẳng giữa hai đảng cộng sản anh em.
Kể từ đó Việt Nam thân Liên Sô hơn Trung Quốc. Nắm cơ hội này, Liên Sô viện trợ
nhiều cho Việt Cộng để chống Pháp, và hé lộ ý đồ giúp Việt Nam trở thành cường
quốc cộng sản trong vùng Đông Nam Á. Trung Quốc rất khó chịu khi nhận ra điều
này vì phía bắc của họ là Liên Sô, nếu phía nam Việt Nam trở thành cườnng quốc
thì họ bị kẹt vào chính giữa, sẽ chận thế phát triển của họ về phía nam.
Phản ứng đầu tiên của Trung Quốc là bắt đầu liên hệ với Hoa Kỳ vào cuối năm 60,
đầu năm 70 trên cấp bực cao với ngoại trưởng Henry Kissinger và rồi với Tổng
Thống Nixon. Cùng lúc đó họ bắt đầu hỗ trợ cho Cam-Pu-Chia dưới sự lãnh đạo của
Pol Pot về ý thức hệ cộng sản, nhưng trên thực tế, họ muốn cô lập Việt Nam với
Trung Quốc về phía bắc và Campuchia ở hướng tây.
Khi Khmer Đỏ của Pol Pot nắm quyền, họ bắt đầu đòi lại lãnh thổ mà họ cho là
Việt Nam đã chiếm trong quá khứ. Bị từ khước, Pol Pot bắt đầu tàn sát Việt Kiều
ở Campuchia, và hỗ trợ cho du kích đánh phá Việt Nam ở phía tây vào năm 1978
(theo Wikipedia, Google). Nắm lấy cơ hội này, Liên Sô giúp Việt Nam đánh chiếm
Campuchia, trước hết để loại trừ ảnh hưởng Trung Quốc tại đây, và để chứng minh
với đám cộng sản đàn em là theo Liên Sô có lợi hơn là theo Trung Quốc. Việt Nam
cũng nhận thấy rằng đây là cơ hội, vì Lào đã theo Liên Sô, nếu lật đổ được Pol
Pot lập chánh phủ bù nhìn thì Việt Nam sẽ trở thành cường quốc cấp vùng ở Đông
Nam Á. Vào ngày 7 tháng Giêng 1979, Việt Nam xua quân chiếm Phnom Penh, chấm dứt
chế độ Khmer Đỏ và lập lên chánh phủ bù nhìn thân Việt Nam.
Để trả đũa, ngày 15 tháng Hai năm 1979 Trung Quốc công khai tuyên bố hiệp định
giữa Trung Quốc và Liên Sô hết hiệu lực, và họ có quyền gây chiến tranh với đồng
minh của Liên Sô vì Việt Nam ngược đãi Hoa Kiều và họ dùng chiêu bài bảo vệ kiều
dân để gây chiến với Việt Nam. Hai ngày sau họ đưa 120 ngàn Quân Đội Giải Phóng
Nhân Dân đánh chiếm các tỉnh Cao Bằng, Lào Cai, và Lạng Sơn vào sâu trong lãnh
thổ Việt Nam 30 cây số. Ngày 6 tháng Ba họ đơn phương tuyên bố nhiệm vụ “dạy cho
Việt Nam một bài học” đã hoàn tất, và đơn phương rút quân. Và ngày 16 tháng Ba
họ đã hoàn toàn triệt thoái khỏi biên giới Việt Nam.
Qua những sự kiện nêu trên, ta thấy Trung Quốc luôn tìm cách di dân họ, lấn biên
giới, và dùng kiều dân như một loại vũ khí để xâm lăng các nước láng giềng khi
cần. Với những nước yếu kém, họ coi như là “sân sau” của họ và sẵn sàng dùng vũ
lực để xử dụng theo nhu cầu chiến lược.
Chúng ta đều biết rằng con số người Trung Quốc hiện đang sinh sống tại Việt Nam
không ít, và họ chiếm ưu thế trong lãnh vực kinh tế. Nay cho phép người Trung
Quốc vào Việt Nam không cần chiếu khán nhập cảnh sẽ tạo cơ hội cho một số trong
đám họ ở lại, dù bất hợp pháp, điều ấy gây muôn vàn khó khăn cho đồng bào ta
trong lãnh vực kinh tế, đó là chưa kể đến vấn đề an ninh, chính trị.
Quyết định trên của nhà cầm quyền Hà Nội hết sức sai lầm, vô tình, hay hữu ý
thực hiện chánh sách di dân của nhà cầm quyền Trung Quốc mà họ không tốn cống
sức đòi hỏi, hoặc trả giá để có được như họ đã từng làm với Liên Xô hoặc với các
nước khác. Khi có nhiều cư dân Trung Quốc trên lãnh thổ Việt Nam đó là một trong
nhiều nguyên cớ để họ dùng để xâm lấn ta khi họ có nhu cầu. Đành rằng họ có thể
viện bất cứ nguyên nhân nào, nhưng chúng ta không nên tạo thêm nguyên nhân giúp
họ.
Ngày nay Trung Quốc là một quốc gia hùng cường về kinh tế và quân sự đuợc cai
trị bởi chế độ bá quyền đầy tham vọng, đó là hiểm họa cho thế giới nói chung và
cho Việt Nam nói riêng. Nhà cầm quyền Hà Nội phải sáng suốt nhận ra cái hoạ mất
nước từ Trung Quốc.
Vì quyền lợi tối thượng của dân tộc, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam phải mạnh
dạn, nhanh chóng rút lại lệnh trên trước khi chánh quyền Trung Quốc lợi dụng nó
gây bất lợi lâu dài cho dân tộc. Làm được việc nầy đảng cộng sản Việt Nam ít
nhất còn có được một lần tuyên truyền với đồng bào rằng họ tranh đấu để bảo vệ
quyền lợi dân tộc, và họ không phải là đầy tớ suốt đời của Trung Cộng.
Nhà cầm quyền Hà Nội luôn miệng hô hào hãy khép lại quá khứ thù nghịch, cùng
nhau bắt tay xây dựng lại đất nước. Nhưng nghịch lý thay với người Trung Quốc
đến Việt Nam thì được miễn chiếu khán nhập cảnh, còn người Việt Nam sống ở nước
ngoài khi về thăm quê hương thì những khúc ruột ngàn dậm nầy bắt buộc phải có
chiếu khán nhập cảnh. Người cộng sản Việt Nam nói một đàng, làm một nẻo. Không
biết bao giờ họ mới bắt đầu sự chân thật và chấm dứt sự lừa dối. Họ vẫn tiếp tục
nuôi dưỡng thái độ thù nghịch với chính đồng bào của họ.
Tiến Sĩ Nguyễn Ngọc Sảng
Tài liệu tham khảo:
* Barnard, Calvin, J. Lieutenant Commander, U.S. Navy, The China- India Border
War 1962, Marine Corps Publisher.
* Department of State, International Boundary Study, No 173, August 14, 1984.
* Nguyễn Quốc Khải, Liệu Tây Tạng.., Người Việt, số 7280, ngày 12/11/05.
* Sheng, Micheal M. Korea and World Affairs, Vol. XIX, No. 2, Summer 1995.
* World Press Review, No 12, Vol 50, December 2003.
|