Quản Trị Viên
- Lý Văn Phước
- Đoàn Hữu Định
Những
Nàng Tiên VN
Đỗ Hồng
Biên Tập
- Đỗ Hồng
- Vĩnh Liêm
- Nguyễn Cao Quyền
- Lý Văn Phước
- Đoàn Hữu Định
- Trần Tử Thanh
- Trần Nhật Kim

|
 |
The Vietnamese Community Of Washington DC, Maryland & Virginia
|
Đồng Nai – Biên Hòa
Cù Lao Phố: xưa và nay
Lê Kim Anh
Nhìn từ thác Trị An, ta thấy dòng sông Đồng Nai cuồn
cuộn chảy ra biển Đông, đứng nhìn dòng nước chảy với cơn gió lộng thổi
đem hơi nước mát rượi làm cho du khách cảm thấy lòng vui vì có cảm giác
tươi mát, mặc dù lúc này là trưa hè nóng bỏng. Tôi chợt nhớ đến câu thơ,
điệu hò mà dân miền Đồng Nai thường hay hát:
Nhà Bè nước chảy chia hai
Ai về Gia Định Đồng Nai thì về
Đường về xứ bạn không xa
Qua vùng Đất Đỏ rồi ra Biên Hoà
(Tiếng Hò Miền Nam - Nhạc Phạm Duy)
Ta đã biết con sông Đồng
Nai chẳng những chuyên chở đất bùn sa mầu mỡ đến vun đắp cho giải đất
này mà còn để lại nhiều cù lao lớn hay nhỏ mà một phần đất thuộc Biên
Hòa, sông Đồng Nai chảy đến một khúc quanh thì đã tự chia ra làm hai
nhánh ôm trọn một dải đất phì nhiêu mà người ta gọi nó là Cù Lao Phố,
hay còn gọi là Nông Nại Đại Phố mà nay là xã Hiệp Hòa, thuộc thành
phố Biên Hòa có diện tích gần 7 cây số vuông (6,93km2).
Ngược dòng lịch sử năm 1679, Tổng binh Trần Thượng Xuyên
từ bên Trung Hoa vì lòng trung thành với nhà Minh mà không chịu thần
phục nhà Thanh nên đã đem theo mấy chục chiến thuyền cùng người ngựa với
những người thuộc hạ, xuôi tàu đến Thuận Hoá (Việt Nam) xin tỵ nạn,
Chúa Nguyễn Phúc Chu đương quyền thời đó chấp thuận và sai dẫn những
ngưòi này vào miền Nam, cho khai khẩn đất Đông Phố (Cù Lao Phố) khẩn
hoang lập nghiệp.
Khi đoàn người của Tổng binh Trần Thượng Xuyên đã được
phép nhập cư này đến thì Cù Lao Phố là nơi hoang vu, khỉ ho cò gáy
nhưng họ đã bắt tay ngay vào việc cùng với người dân bản xứ xây dựng
tại nơi đây một thương cảng, tạo ra những con đường lớn, mở rộng những
con đường nhỏ cốt để việc thông thương được thuận lợi và mau lẹ, đường
xá đã đươc sửa sang xây dựng, song song với việc làm ấy các phố xá cũng
được dựng lên, nhà cửa mọc san sát lên như nấm, chợ búa cũng được
thành lập, hàng hóa bán ra mua vào thật dồi dào bởi thế cho nên thường
xuyên có nhiều tàu thuyền ngoại quốc tới lui buôn bán.
Đọc trong lịch sử của sự phát triển Cù Lao Phố ta thấy
nó tiến triển về mọi mặt, nhất là các ngành nghề, trong đó có nghề dệt
chiếu, trồng dâu nuôi tằm, nghề gốm, đúc đồng, làm mộc, làm pháo, nấu
mía để lấy đường v.v..
Thế nhưng rủi thay cho Cù Lao Phố vì cuộc chiến tương
tàn giữa nhà Tây Sơn và Nguyễn Ánh vào năm 1776 đã tàn phá phần lớn
những kiến trúc phong quang của Cù Lao Phố, thậm chí đến nay ta không
còn thấy dấu vết gì của thời xa xưa nữa.
Thời kỳ hoàng kim của Cù Lao Phố đi vào dĩ vãng, hoàn
thành sứ mạng của đô thị cổ xưa, một thương cảng sầm uất nhất phương
Nam. Mãi đến về sau này người dân Cù Lao Phố mới biến cải vùng đất này
thành vựa lúa lớn của miền Đồng Nai - Biên Hòa.
Di tích cũ của Cù Lao Phố hiện nay chỉ còn lại 5 ngôi
chùa, 3 tịnh xá, 11 ngôi đình, 3 ngôi miếu. Tuy vậy, ta có thể cho rằng
Cù Lao Phố xưa còn tồn tại nhiều dạng thức tín ngưỡng, tạo thành những
nét hài hòa xen lẫn nhau
Bây
giờ ta đi vãng cảnh chùa Đại Giác của Cù Lao Phố:
Chùa này nằm trong phần đất của xã Hiệp Hòa (Cù Lao
Phố), là một trong ba ngôi chùa cổ nhất của Biên Hòa, được công nhận là
di tích lịch sử của quốc gia. Hai ngôi chùa còn lại là chùa Long Thiền
(Nhơn Trạch) và chùa Bửu Phong. Chùa có kiến trúc hình chữ đinh, diện
tích khoảng 1000 thước vuông, gồm 3 phần chính: chánh điện, giảng đường
và nhà trù.
Chùa Đại Giác được dựng từ khoảng đầu thế kỷ XVII do công
của nhà sư Thành Đẳng (một trong số những đệ tử của tổ sư Nguyên Thiều
phái Lâm Tế, gốc người Quảng Đông, Trung Hoa). Vào năm 1779, công chúa
thứ ba của vua Gia Long là Nguyễn Thị Ngọc Anh, trên đường chạy trốn
quân Tây Sơn đã có thời gian trú ngụ tại chùa này. Lúc sau khi lên ngôi
vua, Nguyễn Ánh nhớ ơn đã ban chiếu trùng tu và phụng cúng pho tượng
A-di-đà lớn bằng gỗ cao 2,56m. Vì vậy nhân dân địa phương còn gọi là
chùa Phật Lớn.
Đến thời Minh Mạng, chùa tiếp tục được tu sửa. Công chúa
Nguyễn Thị Ngọc Anh đã cúng một bức hoành phi lớn đề ba chữ "Đại Gíác
Tự" treo trước chánh điện.
Năm 1952, do ảnh hưởng lũ lụt, chùa bị hư hại nghiêm
trọng nên đã được trùng tu lại. Tiếc thay, kết cấu cũ bị sửa đổi ít
nhiều, vách ván, cột gỗ đã bị thay thế bằng tường gạch, cột bê tông nên
đã mất rất nhiều nét bảo tồn cổ vật.
Ta đi viếng Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh của Cù Lao Phố:
Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh cũng thuộc phần đất của xã Hiệp
Hòa (Cù Lao Phố).
Năm 1868, Chúa Nguyễn Phúc Chu sai Nguyễn Hữu Cảnh vào
kinh lược vùng đất miền Đồng Nai, nên ông đã đặt tên cho đất này là phủ
Gia Định, dựng dinh Trấn Biên, chia phủ ra làm 2 huyện: Phước Long và
Gia Định, đặt ra phường, ấp, xã, thôn, lập bộ đinh bộ điền và chiêu mộ
di dân từ Ngũ Quảng (miền Trung) vào Đồng Nai khai khẩn đất đai mầu mỡ
xây dựng sự nghiệp.
Mặt tiền đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh nhìn ra sông Đồng Nai
theo hướng tây nam, sân đền rộng. Mặt trước đền có gắn đôi rồng chầu
pháp làm bằng gốm men xanh, hai bên là cặp lân. Hàng cột mặt tiền đắp
rồng cuốn mây có đôi liễn chữ nho khắc chìm vào tuờng.
Năm 1998, nhân dân Đồng Nai đã xây dựng nhà bia ghi lại
lịch sử 300 năm của vùng đất Biên Hòa Đồng Nai trong khuôn viên của đền
thờ Nguyễn Hữu Cảnh. Ngày 16/05 và ngày 11/01 âm lịch hằng năm, nhân dân
địa phương tổ chức tế lễ, cầu cho quốc thái dân an và tưởng nhớ đế công
đức to lớn của bậc tiền nhân có công khẩn hoang, xác lập nền hành chính
tại vùng đất phương nam. Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh là một di tích lịch
sử-văn hóa.
Ta
lại đi thăm một Di tích lịch sử nữa là: Chùa Ông
Chùa Ông cũng lại thuộc xã Hiệp Hòa (Cù Lao Phố), Biên
Hòa. Chùa Ông chỉ cách đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh khoảng 100 thước.
Trước kia Chùa Ông, nguyên thuỷ là Miếu Quan Đế, ngày
nay có tên chữ là Thất Phủ Cổ Miếu. Đây là ngôi chùa của người Hoa được
xây dựng trước nhất ở miền Nam (khoảng năm 1684).
Chùa Ông được xây dựng theo kiến trúc hình chữ khẩu. Bên
ngoài chùa là cả một công trình độc đáo các tượng gốm men xanh của thợ
gốm Cây Mai (Chợ Lớn) về các đề tài như hát bội, hát tuồng, múa hát cung
đình, tượng ông Nhật bà Nguyệt...Thêm vào đó, các tạo tác bằng đá ở mặt
tiền chùa do thợ đá Bửu Long tạo ra đã tạo nên kiểu thức đặc trưng cho
kiến trúc Minh Hương trên vùng đất Biên Hòa.
Là một nơi thờ tự, tín ngưỡng, với kiến trúc khá độc đáo,
chùa Ông là điểm đến của nhiều du khách gần xa tới tham quan, nghiên
cứu, chiêm bái và cầu lộc.
Quý vị cũng như chúng tôi vẫn mong sớm ngày quê hương
quang phục, đất nước được hưởng thanh bình, dân chúng được tự do theo
đúng nghĩa, các di tích cổ truyền được trùng tu và bảo quản cho xứng với
nền văn hoá VN có 4 ngàn năm văn hiến.
Lê Kim Anh
|
|
©Copyright 2004 The Vietnamese Community Of Washington DC, Maryland & Virginia - All Rights Reserved. |
|